Tổng quan về bệnh Huyết áp cao và phương pháp điều trị(phần 1)

Cao huyết áp là bệnh lý tim mạch nguy hiểm được xem như “kẻ giết người thầm lặng” vì toàn bộ sự tiến triển của bệnh thường diễn ra trong âm thầm không có triệu chứng. Hiện nay Việt Nam có khoảng 12 triệu người mắc phải, nghĩa là trung bình cứ 5 người trưởng thành thì có 1 người mắc bệnh. Năm 2016, tỷ lệ này ở mức báo động đỏ với hơn 40% người lớn bị tăng huyết áp.

A- Đại Cương

– Huyết áp cao là danh từ để chỉ trạng thái tăng áp lực của máu trong động mạch.

– Danh từ này do Y học hiện đại đặt ra căn cứ trên phát hiện của áp máy đo huyết áp

– Y học cổ truyền trước đây không có danh từ huyết áp cao nhưng có những tên gọi như Huyễn Vựng (Vậng), Can Dương Vượng… mà nội dung rất gần với các chứng trạng của bệnh Huyết áp cao.

– Huyết áp cao là bệnh có tỉ lệ mắc bệnh cao:

– Bệnh biến đổi thường xuyên:

+ Thay đổi trong ngày: (ban đêm ít (thấp) hơn ban ngày).

+ Theo tuổi: lớn tuổi bị nhiều hơn trẻ tuổi.

+ Theo giới: nam bị nhiều hơn nữ.

– Muốn biết rõ chính xác huyết áp cao cần phải dùng máy đo huyết áp 

– Khi đo huyết áp ta sẽ ghi nhận được 2 trị số:

+ Trị số HA tối đa (còn gọi là HA Tâm Thu): tượng trưng cho áp lực máu trong động mạch lúc tim co bóp.

+ Trị số HA tối thiểu (còn gọi là HA Tâm Trương): tượng trưng cho áp lực máu trong động mạch lúc tim dãn ra. Số tối thiểu này còn cho ta biết rõ về sức kháng của các động mạch nhỏ trong cơ thể.

Theo tổ chức Y Tế thế giới (OMS – WHO), một người được coi là huyết áp cao khi HA tối đa lớn hơn 140mmHg và HA tối thiểu lớn hơn 90mmhg. HA trung bình là  110/70 (theo Viện Thống Kê Sinh Học Việt Nam ).

Tuy nghiên cũng cần lưu ý là đối với người lớn tuổi huyết áp bình thường hơi tăng 1 ít do sức đàn hồi của mạch máu bị giảm. Một người bình thường trên 50 tuổi HA 160/90mmHg được coi là bình thường.

Ngoài ra, còn có loại huyết áp cao sinh lý:

+ Buổi sáng huyết áp hơi hạ, khi ăn no, có xúc cảm, sau buổi lao động, sau khi suy nghĩ căng thẳng…huyết áp có hơi tăng một ít.

+ Phụ nữ có thai hoặc đang có kinh nguyệt, huyết áp cũng hơi tăng.

 

Huyết áp cao là danh từ để chỉ trạng thái tăng áp lực của máu trong động mạch.
Huyết áp cao là danh từ để chỉ trạng thái tăng áp lực của máu trong động mạch.

B- Bệnh Danh

– Y học hiện đại trước đây gọi chung là huyết áp cao, gần đây, dựa trên sinh lý học, các nhà nghiên cứu đè xuất nên gọi là huyết áp tăng hoặc tăng huyết áp

Y học cổ truyền trước đây không có tên gọi là huyết áp cao nhưng hiện nay giới Y học cổ truyền cũng đã quen dần với tên gọi: huyết áp cao, huyết áp tăng

Y học cổ truyền chưa thống nhất về cách phân loại bệnh huyết áp cao.

+ Nguyễn Như Lệ (VNam) trong ‘Tạp Chí Đông Y ‘ số 11\1967 phân loại huyết áp cao theo Tạng: Huyết áp cao thể Can, Tâm, Thận, Tỳ…

+ Thịnh Quốc Vinh (T.Quốc) phân loại theo âm Dương và Tạng.

+ Vương Kiến Dân (T.Quốc) phân loại theo Hàn – Nhiệt, Hư – Thực và Khí – Huyết.

+ Sở Nghiên Cứu Nội Khoa Viện Nghiên Cứu Trung Y phân loại theo Âm Dương, Tạng, Hàn Nhiệt và tên bệnh.

+ Sở Nghiên Cứu Huyết áp Cao của Trung Y Học Viện Thượng Hải phân loại theo âm Dương.

%lương y%

C- Phân loại

Trong các cách phân loại trên mỗi cách đều có ưu khuyết điểm riêng, tuy nhiên để cho phù hợp với quan điểm của Y học cổ truyền, các nhà nghiên cứu đề nghị dùng cách phân loại theo Âm Dương 

Theo cách phân loại này, ta có 5 loại sau:

* Dương Thịnh: Can dương thượng cang, Can nhiệt thượng xung.

* Dương Hư: Thận dương hư, Dương khí trong ngực hư.

* Âm Hư Dương Thịnh: Âm hư Can vượng, Thận suy Can vượng.

* Âm Hư : Can Thận lưỡng hư, Tâm huyết hư.

* Âm Dương đều hư.

So sánh với Y học hiện đại, Sở Nghiên Cứu Nội Khoa của Viện Nghiên Cứu Trung Y nhận xét như sau:

+ Thể Dương Thịnh: tương đương thời kỳ 1 giai đoạn 1 và thời kỳ 2 (giai đoạn huyết áp cao chưa có xơ cứng động mạch).

+ Thể Âm Hư Dương Hư: Tương đương với thời kỳ I (giai đoạn có xơ cứng động mạch và triệu chứng về tim, thận, não…)

+ Thể Âm Dương Đều Hư: tương đương với giai đoạn II thời kỳ III là lúc đã mất sức lao động.

+ Thể Âm Hư Dương Thịnh: là thời kỳ chuyển tiếp giữa giai đoạn II và III.

Tổng quan về bệnh Huyết áp cao và phương pháp điều trị

 

 

D- Nguyên Nhân

a- Theo YHHĐ.

Theo TCYTế thế giới thì 1 số ít trường hợp HA cao đã có nguyên nhân được biết rõ nhưng phần lớn (trên 90% số trường hợp) cho đến nay người ta vẫn chưa xác định rõ được nguyên nhân. Đối với những trường hợp này y học gọi là HA vô căn ( HA không rõ nguyên nhân).

Theo TCYTế thế giới, một số nguyên nhân gây ra HA cao là:

1+ Yếu Tố Thần Kinh, Tâm Lý Xã Hội.

. Trong thời kỳ chiến tranh, HA cao nhiều hơn.

. Trạng thái căng thẳng thần kinh, không thoải mái, môi trường xã hội không thuận lợi: ở thành phố ồn ào, nhiều kích động hơn nông thôn…HA cũng cao hơn.

2+ Do Tăng Các Chất Nội Tiết.

Khi bị sợ hãi nhiều,cơ thể tiết ra chất Adrenalin và Noradrenalin làm mạch máu co lại gây ra HA cao.

3+ Yếu Tố Dinh Dưỡng

. Chế độ ăn uống hàng ngày có thể ảnh hưởng đến HA: ăn thừa năng lượng (calori) dẫn đến thừa cân nặng ở cơ thể, thừa mỡ cũng gây nên bệnh HA cao và bệnh nhiễm mỡ xơ mạch. Giữa 2 bệnh này có sự thúc đẩy qua lại: sự phát triển của bệnh này làm bệnh kia tiến triển hơn.

– Ăn thừa muối (Nacl) có ảnh hưởng đến việc tăng HA.

4+ Yếu Tố Di Truyền.

Có gia đình cả nhà hoặc cả họ đều bị HA cao.

Huyết áp cao là danh từ để chỉ trạng thái tăng áp lực của máu trong động mạch.
Huyết áp cao là danh từ để chỉ trạng thái tăng áp lực của máu trong động mạch.

Ngoài ra, tổ chức y tế thế giới cũng lưu ý đến 3 nhóm nguyên nhân chính thường gặp:

1+ HA cao do dùng thuốc.

. Thuốc ngừa thai loại Hormon tổng hợp.

. Cam thảo và Carbenoxolone.

. ACTH và Corticoide.

2+ HA cao trong thai nghén.

Với 3 dấu hiệu kinh điển: HA cao + Protein Niệu + Phù.

3+ HA cao do 1 số bệnh thực thể.

. Hẹp động mạch chủ (tật bẩm sinh).

. Các bệnh của Thận (cầu thận, bể thận viêm…)

. Các bệnh của vỏ thượng thận: hội chứng Cushing, U thượng thận gây ra tăng Aldosteron…

. Các bệnh của thượng thận: u pheochromocytome…

Một số tác giả hiện nay phân loại nguyên nhân gây HA cao thành 2 nhóm chính, dựa theo trị số của huyết áp tâm thu và HA tâm trương.

Cụ thể là:

+ Lo buồn suy nghĩ, tinh thần căng thẳng đều có thể làm cho khí bị mất. Khí mất lâu sẽ hóa hỏa. Giận dữ (nộ) làm hại Can (Nội Kinh:”Nộ thương Can”), Can hỏa vượng lên gây ra nội phong.

+ Lo buồn,suy nghĩ làm hại Tỳ (Nội Kinh: “ Tư thương Tỳ”), Tỳ hư khí suy không chế ngự được Thận sẽ sinh ra đờm thấp. Đờm thấp có thể sinh ra nhiệt và nhiệt có thể sinh ra nội phong.

+ Tỳ hư ảnh hưởng đến việc dinh dưỡng kém sút, làm cho tinh hậu thiên của các tạng suy kém gây ra Hư, nhất là đối với Thận âm.

+ Thận âm hư làm cho Can huyết hư không nuôi dưỡng được Can, nhẹ thì gây ra chứng Âm hư Can vượng, nặng thì sinh ra Can mộc nội phong.

Các yếu tố này tuy bao gồm Phong, Hỏa, Đờm, Hư nhưng chủ yếu là do Nội Phong và Hỏa vượng.

So sánh với các yếu tố gây bệnh của có thể nhận thấy:

+ Về nhận thức: YHHĐ và YHCT đều cho rằng hoạt động tinh thần là nguyên nhân gây bệnh.

+ Về các yếu tố gây bệnh:

* Phong Hỏa, cụ thể là Can Hỏa, Can phong rất gần với hội chứng Stress, tinh thần căng thẳng…

* Đờm tương ứng với chứng Cholesterol máu cao.

* Hư ở đây có thể hiểu là hiện tượng thoái hóa của cơ thể, động mạch xơ cứng…

 

Còn tiếp

Tác giả: Lương y Phan Thanh Hưng

SDT: 0948.418.238

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Contact Us