Tư tưởng Thắng Man Sư Tử Hống từ góc nhìn Như Lai Tạng

MỤC LỤC

HT. Thích Thái Hòa

MỤC LỤC

Ngỏ
Giới thiệu Kinh Thắng Man
Nội dung Kinh Thắng Man
Đặc điểm của Kinh Thắng Man
Giáo nghĩa Như Lai tạng
Khởi nguyên giáo nghĩa Như Lai tạng
Như lai tạng tính giáo nghĩa cốt tủy Đại thừa
Như lai tạng với chín nghĩa ẩn dụ
Như lai tạng và Pháp thân
Như lai tạng với Tứ thánh đế
Con đường tu tập và chuyển hóa
Lịch sử – Các dịch bản – Các chú, Sớ bản
Lịch sử
Các dịch bản
Các chú, sớ bản

 
THẮNG MAN SƯ TỬ HỐNG NHẤT THỪA ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG QUẢNG KINH

Chương I: Ca ngợi phẩm tính siêu việt của Như Lai
Chương II: Mười Đại Thọ
Chương III: Ba đại nguyện
Chương IV: Nhiếp thọ
Chương V: Nhất thừa
Chương VI: Vô biên Thánh đế
Chương VII: Như Lai tạng
Chương VIII: Pháp thân
Chương IX: Không nghĩa ẩn phú chân thật
Chương X: Nhất đế
Chương XI: Nhất y
Chương XII: Điên đảo và Chân thật
Chương XIII: Tự tánh thanh tịnh
Chương XIV: Đệ tử chân thật
Chương XV: Thắng Man
Thư mục tham khảo

NGỎ

 
Kinh Thắng Man, nói đủ theo bản dịch của Cầu-na-bạt-đà-la là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Đại Quảng Kinh. Nhưng, chương cuối của kinh này, đức Thế Tôn nói với Thiên Đế Thích có đến mười lăm tên gọi khác nhau. Tên gọi thứ nhất của kinh là: “Thán Như lai chân thật đệ nhất nghĩa công đức”. Nghĩa là Ca ngợi đệ nhất nghĩa chân thật của Như lai. Tên gọi thứ hai “Bất tư nghị đại thọ”. Nghĩa là Sự lãnh thọ lớn lao không thể nghĩ bàn. Tên gọi thứ ba “Nhất thiết nguyện nhiếp đại nguyện”. Nghĩa là Tất cả nguyện nhiếp thâu vào đại nguyện. Tên gọi thứ tư “Thuyết bất tư nghị nhiếp thọ chánh pháp”. Nghĩa là Nói về nhiếp thọ chánh pháp không thể nghĩ bàn. Tên gọi thứ năm “Thuyết nhập nhất thừa”. Nghĩa là Nói về sự hội nhập nhất thừa. Tên gọi thứ sáu “Thuyết vô biên Thánh đế”. Nghĩa là Nói về vô biên thánh đế. Tên gọi thứ bảy “Thuyết Như lai tạng”. Nghĩa là Nói về Như lai tạng. Tên gọi thứ tám “Thuyết pháp thân”. Nghĩa là Nói về pháp thân. Tên gọi thứ chín “Thuyết không nghĩa ẩn phú chân thật”. Nghĩa là Nói về sự chân thật che lấp bởi nghĩa không. Tên gọi thứ mười “Thuyết nhất đế”. Nghĩa là Nói về một thánh đế. Tên gọi thứ mười một “Thuyết thường trú an ổn nhất y”. Nghĩa là Nói về một chỗ y cứ thường trú an ổn. Tên gọi thứ mười hai “Thuyết điên đảo chân thật”. Nghĩa là Nói về điên đảo và chân thật. Tên gọi thứ mười ba “Thuyết tự tính thanh tịnh tâm ẩn phú”. Nghĩa là Nói về tự tính thanh tịnh bị che khuất. Tên gọi thứ mười bốn “Thuyết Như lai chân tử”. Nghĩa là Nói về người đệ tử chân thật của Như lai. Tên gọi thứ mười lăm “Thuyết Thắng Man Phu Nhân Sư Tử Hống”. Nghĩa là Nói về tiếng rống Sư tử của Phu nhân Thắng Man.

Mười lăm tên kinh, đức Thế Tôn nói cho Thiên Đế Thích, nêu rõ mười lăm nội dung của kinh này.

Với tên kinh “Thán Như lai chân thật đệ nhất nghĩa công đức”. Nghĩa là Kinh ca ngợi đệ nhất nghĩa chân thật của Như lai. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man để ca ngợi công đức chân thật một cách rốt ráo của Như lai, ngay buổi sơ ngộ giữa trò và thầy với âm thanh hùng tráng vút lên như tiếng gầm sư tử, khiến cho những ai quen nghe với căn trần phiền não, quen thấy với mắt nhìn theo tập khí vô minh, quen tư duy theo mộng ước thấp hèn, lông tóc bỗng dưng dựng ngược, phách tán hồn bay. Vì Như lai vốn đầy đủ vô lượng công đức chân thật từ Như lai tạng tính.

Với tên kinh “Bất tư nghị đại thọ”. Nghĩa là Kinh nói về sự lãnh thọ lớn lao không thể nghĩ bàn. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man, sau khi nghe đức Thế Tôn thọ ký sẽ thành Phật với hiệu Phổ quang Như lai, quốc độ không có các ác thú, không có các sự khổ não của sinh già bệnh chết, không có những khổ não của sự không thích ý, không có tên gọi của các ác nghiệp đạo bất thiện… liền chí thành đảnh lễ đức Thế Tôn và tiếp nhận Mười đại thọ không thể nghĩ bàn, siêu việt không gian và siêu việt thời gian, khiến cho những kẻ tâm chí thấp hèn, sống với đời sống bị đóng khung trong những tư duy thực tiễn ngắn ngủi và phiến diện, lông tóc bỗng dưng dựng ngược, tâm ý khiếp nhược chợt bay. Vì bất tư nghị đại thọ là lãnh thọ Đại thừa giới pháp từ nơi trực kiến Như lai tạng tính là tính vô nhiễm, tính bất sinh diệt mà khởi hoạt đại bi lãnh thọ Đại nguyện, nhiếp thọ chúng sinh và nhiếp hộ chánh pháp bằng đại nguyện.

Với tên kinh “Nhất thiết nguyện nhiếp đại nguyện”. Nghĩa là Kinh nói về tất cả nguyện nhiếp thâu vào đại nguyện. Khi Phu nhân Thắng Man quỳ xuống trước đức Thế Tôn phát khởi ba đại nguyện và với sức mạnh của ba đại nguyện ấy là nguyện làm lợi ích cho vô biên chúng sinh bằng chánh pháp; tuyên dương chánh pháp bằng trí tuệ không biết mỏi mệt; vì sự giữ gìn chánh pháp không bị hủy diệt mà không lẫn tiếc thân mạng. Ba đại nguyện này của Phu nhân Thắng Man khi phát lên đã được đức Thế Tôn ấn chứng và Ngài nói: “Cũng như hết thảy sắc đều thâu nhiếp vào trong không gian, hằng sa các nguyện của Bồ tát thảy đều gom vào trong ba đại nguyện này. Ba nguyện này là chân thật và vĩ đại”. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man đối với thế giới bản nguyện. Thế giới bản nguyện là thế giới của Như lai tạng. Nếu không thấy Như lai tạng tính, thì không có nền tảng để khởi lên hạnh nguyện chân thật.

Với tên gọi thứ tư “Thuyết bất tư nghị nhiếp thọ chánh pháp”. Nghĩa là Nói về nhiếp thọ chánh pháp không thể nghĩ bàn. Phu nhân Thắng Man bạch đức Thế Tôn rằng: “Hằng sa nguyện của Bồ tát đều nhập vào một đại nguyện, ấy là nguyện nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp đích thật là đại nguyện”. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man không thể nghĩ bàn đối với sự nhiếp thọ chánh pháp. Chánh pháp là Như lai; Như lai là chánh pháp. Không có Như lai là không có chánh pháp. Như lai là từ Như lai tạng tính mà biểu hiện. Không có Như lai tạng tính thì không có Như lai và không có chánh pháp của Như lai, nhưng có Như lai và có chánh pháp của Như lai là do Như lai từ Như lai tạng tính mà biểu hiện đầy đủ vô lượng công đức.

Với tên gọi thứ năm “Thuyết nhập nhất thừa”. Nghĩa là Nói về sự hội nhập nhất thừa. Phu nhân Thắng Man bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn! Nhiếp thọ chánh pháp chính là Đại thừa. Vì sao? Vì Đại thừa xuất sinh hết thảy thiện pháp của thế gian, xuất thế gian, Thanh văn và Duyên giác… đều nương nơi Đại thừa mà tăng trưởng. Đại thừa mất là chánh pháp mất, Đại thừa còn là chánh pháp còn. Giới luật là chánh pháp Đại thừa, vì do nương tựa đức Thế Tôn mới được xuất gia, mới thọ cụ túc giới. A la hán cũng nương tựa Phật. Bồ tát cũng nương tựa ở nơi Phật… Thanh văn thừa, Duyên giác thừa đều quy vào Đại thừa. Đại thừa chính là Phật thừa. Tam thừa vốn là Nhất thừa. Chứng đắc Nhất thừa là chứng đắc Vô thượng Bồ đề…”. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về ý nghĩa Đại thừa bao hàm các thừa và các thừa hội nhập Nhất thừa”.

Với tên gọi thứ sáu “Thuyết vô biên Thánh đế”. Nghĩa là Nói về vô biên thánh đế. Phu nhân Thắng Man nói về trí tuệ xuất thế bậc nhất. Chính trí ấy, đập vỡ hết thảy vỏ cứng phiền não, khiến hiện kiến Như lai tạng tính. Trí Thánh đế ấy, chính là trí đệ nhất nghĩa của Như lai và Như lai từ nơi đệ nhất nghĩa trí ấy mà diễn thuyết Thánh đế đúng với Như lai tạng tính…”. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về ý nghĩa Vô biên Thánh đế.

Với tên gọi thứ bảy “Thuyết Như lai tạng”. Nghĩa là Nói về Như lai tạng.  Đệ nhất nghĩa đế hay Vô biên Thánh đế chính là Như lai tạng. Phu nhân Thắng Man nói: “Như lai tạng là cảnh giới của Như lai, không thể biết được bởi hàng Thanh văn, Duyên giác. Chính ở nơi Như lai tạng mà nói Thánh đế”. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về Như lai tạng.

Với tên gọi thứ tám “Thuyết pháp thân”. Nghĩa là Nói về pháp thân. Pháp thân chính là Như lai tạng, không còn bị vỏ cứng phiền não bao bọc, trói buộc. Từ nơi Pháp thân này, đức Phật nói về Thánh đế hữu tác và vô tác. Thánh đế hữu tác chỉ là phương tiện từ Pháp thân hiển thị và vô tác Thánh đế mới là cứu cánh hay pháp thân tuyệt đối. Pháp thân tuyệt đối là pháp bất diệt, nên không có pháp nào diệt mà chỉ có khổ diệt. Pháp thân hay tự tính thanh tịnh vốn thường trú, không sinh diệt, lìa xa kho tàng phiền não. Nên, Pháp thân chính là Như lai tạng. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về Pháp thân.

Với tên gọi thứ chín “Thuyết không nghĩa ẩn phú chân thật”. Nghĩa là Nói về sự chân thật che lấp bởi nghĩa không. Như lai tạng có đầy đủ cả tính chân không và diệu hữu, nhưng tính chân thật ấy bị che lấp bởi những ý nghĩa không của những cách nhìn thiên lệch không toàn vẹn từ nhiều phía thiên chấp của các hành giả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về Không nghĩa ẩn phú chân thật.

Với tên gọi thứ mười “Thuyết nhất đế”. Nghĩa là Nói về một thánh đế. Một Thánh đế là nói về Diệt Thánh đế. Khổ Tập Đạo thì có sinh diệt mà Diệt Thánh Đế chỉ có khổ diệt và Diệt thánh đế thì bất diệt. Diệt Thánh đế là Đệ nhất nghĩa đế; là tự tính thanh tịnh Niết bàn và nó cũng chính là Như lai tạng tính. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về Nhất đế.

Với tên gọi thứ mười một “Thuyết thường trú an ổn nhất y”. Nghĩa là Nói về một chỗ y cứ thường trú an ổn. Nói về Diệt Thánh đế là chỗ nương tựa an ổn nhất, vì đó là chỗ vắng lặng, bất động và thường trú tuyệt đối. Như lai tạng tính là chỗ an trú, nương tựa an ổn nhất trong hết thảy chỗ nương tựa cho các hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về Nhất y.

Với tên gọi thứ mười hai “Thuyết điên đảo chân thật”. Nghĩa là Nói về điên đảo và chân thật. Ấy là nói về điên đảo của phàm phu là kiến chấp nhị biên; Thanh văn và Duyên giác thì chưa có cách nhìn toàn diện đối Khổ diệt hay Niết bàn chân thật. Như lai tạng tính là tính Niết bàn chân thật. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về điên đảo và chân thật.

Với tên gọi thứ mười ba “Thuyết tự tính thanh tịnh tâm ẩn phú”. Nghĩa là Nói về tự tính thanh tịnh bị che khuất. Đây là nói về Như lai tạng tính, bản tính thanh tịnh vốn có của hết thảy chúng sinh, nhưng lại bị che khuất bởi phiền não. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man đối với Tự tính thanh tịnh tâm ẩn phú.

Với tên gọi thứ mười bốn “Thuyết Như lai chân tử”. Nghĩa là Nói về người đệ tử chân thật của Như lai. Người con chân thật của Như lai là người tin mình có Như lai tạng và từ Như lai tạng hay do thấy tự tính thanh tịnh vốn có nơi tâm tính của mình mà tự khẳng định mình là Phật tử. Ấy là tiếng rống sư tử của Phu nhân Thắng Man về Như lai chân tử.

Với tên gọi thứ mười lăm “Thuyết Thắng Man Phu Nhân Sư Tử Hống”. Nghĩa là Nói về tiếng rống Sư tử của Phu nhân Thắng Man. Vì Phu nhân Thắng Man đã rống lên tiếng rống sư tử từ mười bốn vấn đề trước, khiến cho những ai nghe pháp với tâm chí hạ liệt, thiên chấp pháp môn, tự rơi rụng, để tiến lên chí nguyện Đại thừa, khai quật Như lai tạng, nhằm diện kiến Phật tính, khám phá kho tàng Phật tính hay tự tính thanh tịnh của tự tâm, nhằm tự khẳng định lấy mình là đệ tử chân thật của Như lai, thừa Như lai sứ, hành Như lai sự.

Nên, chương cuối này, nêu lên tên kinh Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Đại Quảng Kinh là bao quát cả Phương tiện lẫn cứu cánh một cách sâu xa và rộng lớn, về bản thể tuyệt đối của Như lai tạng mà Phu nhân Thắng Man đã diễn đạt từ nhiều cấp độ sâu rộng khác nhau về giáo nghĩa Như lai tạng tính.

Kinh này có nhiều bản dịch, chỉ có hai bản dịch hiện đang lưu hành và các bản dịch khác thì bị thất lạc. Bản dịch của ngài Cầu-na-bạt-đà-la với tên kinh là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Quảng Kinh, kinh mang số ký hiệu 353, hiện có ở Đại Chính 12. Bản dịch của ngài Cầu-na-bạt-đà-la có phân thành mười lăm đoạn. Bản dịch của ngài Bồ-đề-lưu-chí, ở trong kinh Đại Bảo Tích với tên Thắng Man Phu Nhân Hội. Hội 48, mang ký hiệu số 310, Đại chính 11. Bản dịch của ngài Bồ-đề-lưu-chi là bản văn không có phân đoạn.

Kinh này có bốn bản chú giải nổi bậc được nhiều nhà Phật học biết đến và tham khảo. Đó là bản của ngài Cát tạng, Tuệ viễn, Khuy cơ, Thánh đức Thái tử.

Kinh Thắng Man Bảo Quật, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, gồm có sáu cuốn, hiện có ở Đại Chính 37  và Tục Tạng 19.

Kinh Thắng Man Nghĩa Ký, hai cuốn, do ngài Tuệ viễn biên soạn vào đời Tùy, hiện có ở Tục Tạng 19.

Thắng Man Kinh Thuật Ký của ngài Khuy cơ, đời Đường, do ngài Khuy cơ giảng thuyết, Nghĩa linh ghi lại, hiện có ở Tục Tạng 19.

Thắng Man Kinh Sớ Nghĩa Tư Sao, Sớ là của Thánh Đức Thái Tử và Tư sao là của Minh Không, hiện có ở Tục Tạng 19.

Các bản Việt dịch, hiện có bốn bản:

Bản của Giáo sư Nguyên Hồng-Lý Kim Hoa, dịch từ bản Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Quảng Kinh, bản đánh máy, 1986.

Bản của Hòa thượng Trí Tịnh, dịch từ Thắng Man Phu Nhân Hội của Bồ-đề-lưu-chi ở Đại Bảo Tích, Đại chính 11, do Sở Văn Hóa và Thông Tin Tp. Hồ Chí Minh cấp phép xuất bản ngày 26/8/1988.

Kinh Thắng Man, Trí Quang Thượng Nhân dịch, từ bản của ngài Bồ-đề-lưu-chi ở Đại Bảo Tích và có đối chiếu với bản dịch của ngài Cầu-na-bạt-đà-la, Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, Xuất bản 1994.

Thắng Man Giảng Luận, Tuệ Sĩ, Nhà xuất bản Phương Đông 2007.

May mắn cho tôi, đối với bản Kinh này, trong thời gian tôi theo học khóa Phật học tại Phật Học Viện Quảng Hương-Già Lam, niên khóa 1980 – 1984, do Hòa thượng Thích Trí Thủ chủ trương và làm Giám viện, chúng tôi lại được Tuệ Sĩ Thượng Nhân giảng dạy cho bản kinh này. Không những vậy, Thượng Nhân còn chia cho các Tăng sinh mỗi vị nghiên cứu mỗi chương, trong 15 chương của kinh, để giảng dạy cho Phật tử và cho các huynh trưởng GĐPT.

Nhờ nhân duyên ấy, khiến tôi để tâm nghiên cứu, học hỏi các bản Hán dịch, chú sớ, tự mình chiêm nghiệm đối chiếu suốt cả một thời gian dài, để khám phá tính đa dạng và nhiều mặt sâu sắc hàm chứa ở trong Kinh.

Tổ Tiên Việt Nam chúng ta đã dạy cho con cháu, đừng nghe người nói: “Ba bảy hai mươi mốt”.

Lời ấy của Tổ Tiên Việt Nam dạy chúng ta, không nên học từ sự nghe người khác nói hay người khác dạy có tính cách từ chương, lặp đi lặp lại lâu ngày trở thành thói quen, để rồi nói và hành động theo thói quen. Nói và hành động theo thói quen cái đúng thì rất ít mà cái sai thì rất nhiều. Đúng vì nó ở trong môi trường tương tác thích ứng với thói quen. Nếu ở một môi trường khác, tương tác không thích ứng, cái đúng theo thói quen của chúng ta trở thành ngơ ngác, ngớ ngẩn, ngộc nghệch tạo thành những cảm giác khó chịu cho chính mình và người khác.

Suy nghĩ theo thói quen lại là một sự suy nghĩ đầy kinh dị, vì nó thường tạo ra những thành lũy tà kiến, đóng thành từng “khung cửa hẹp” để cho rêu phủ bụi bám từ đời này qua kiếp khác, khiến cho ánh sáng mặt trời chân lý dù kỳ diệu đến mấy cũng khó xuyên qua. Do đó, từ suy nghĩ theo thói quen này tạo thành những suy nghĩ của thói quen khác tương tục lưu chuyển và vận hành trong tâm thức từ đời này qua kiếp khác, đến nỗi nghĩ sai, nói sai và làm sai, nhưng chẳng có cảm giác gì ngập ngừng, ngượng nghịu.

Cũng vậy, với phép nhân “Ba bảy hai mươi mốt” là đúng rồi. Nhưng nó chỉ đúng với phép nhân, nhưng nó hoàn toàn sai với phép cộng. Bởi vì ba cộng bảy là mười. Ba cộng bảy là mười, nhưng nó hoàn toàn sai với ba trừ bảy hay bảy trừ ba. Ba trừ bảy bằng không phẩy một tám năm… (0, 185…;) và bảy trừ ba bằng bốn (4) và nếu bảy chia ba bằng hai phẩy ba ba ba (2, 333…).

Như vậy, “Ba bảy hai mươi mốt” là đúng, nhưng đúng ở môi trường của phép tính nhân mà nó không đúng với môi trường của các phép tính khác.

Cũng vậy, chúng ta phải học tập để có cái hiểu ba bảy toàn phần, chứ đừng rơi vào cái học tập chỉ biết ba bảy từng phần. Ít nhất chúng ta phải học để biết “ba bảy” đầy đủ cả bốn phép tính của nó. Nếu chỉ biết một phép tính mà nói, thì Tổ Tiên Việt Nam khuyên dạy con cháu không nên nghe và tin những gì từ cái biết của người ấy nói ra.

Ngày xưa, khi đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài gọi các Tỷ khưu mà bảo: “Những gì Như lai biết, ví như lá ở rừng sâu, nhưng những gì Như lai nói lại cho các thầy, chỉ là một nắm lá ở trong lòng tay”.

Tư tưởng kinh Thắng Man giúp chúng ta đi tới với cái biết của đức Thế Tôn như lá ở rừng sâu, mà không dừng lại với cái hiểu biết ít ỏi như những ngọn lá trong lòng bàn tay của Thế Tôn.

Cũng vậy, tư tưởng kinh Thắng Man giúp ta đi tới với cái hiểu toàn diện, cái hiểu của đức Thế Tôn đối với chân lý, chứ không phải dừng lại ở nơi chân lý nhất phần, thiểu phần, bán phần, đa phần mà phải đi tới với sự hiểu biết chân lý toàn phần.

Đi tới với sự hiểu biết chân lý toàn phần hay đi tới với sự hiểu biết toàn giác của đức Thế Tôn, bằng cách nào là quyền của chúng ta và trong điều kiện của chúng ta đang có thể, nhưng nhất định phải đi tới. Nếu không phải hạnh và nguyện như vậy, thì chúng ta dù có gọi tên mình bằng bất cứ danh nghĩa nào trong Phật giáo đi nữa, cũng không phải là con đích của Thế Tôn và lại càng không phải dòng dõi của Như lai, vì chúng ta không sinh ra từ Như lai tạng và không lớn lên từ Như lai tạng tính.

Chí thành đảnh lễ đức Thế Tôn, bậc Như lai, A-la-hán, Chánh biến giác là bậc Thầy của hết thảy vị Thầy của thế gian và xuất thế gian.

Biết ơn sâu sắc đến Phu nhân Thắng Man, cảm ơn vua Ba-tư-nặc, Phu nhân Mạt-lị, vị nội quan của vua Ba-tư-nặc đã chuyển bức thư của vua đến Phu nhân Thắng Man nước A-du-đà; cảm ơn Hội đồng Tăng già biên tập kinh này thành tiếng Phạn, cảm ơn chư Tôn đức phiên dịch kinh này từ Phạn sang Hán và cảm ơn chư Tôn đức giảng giải, sớ thích, giữ gìn và truyền bá kinh này trải qua các thời đại cho đến ngày nay.

Nay, nhân duyên hội đủ, các pháp tựu thành. Trong tác phẩm này có gì ưu điểm thì đó là của thầy, bạn chúng tôi và có gì chưa hoàn hảo là do sở học còn kém cỏi của tôi.        

Nguyện đem công đức này cúng dường Tam bảo, cúng dường Lịch đại Tổ sư, Giáo thọ sư và hồi hướng cho cha mẹ hiện tại và nhiều đời, Phật tử các giới, cùng pháp giới chúng sinh đều sống an lạc ở trong biển cả Phật pháp.

 
Tàng Kinh Các-Huế,
Mùa nhập thất, Phật lịch 2563 – 2019.
Thích Thái Hòa

GIỚI THIỆU KINH THẮNG MAN
 

Nội dung kinh Thắng Man

Nội dung kinh Thắng Man, có 15 chương, năm chương đầu là đề cập đến bản thể của Nhất thừa, gồm các chương: Ý nghĩa chân thật về công đức của Như lai (Như lai chân thật công đức); Mười điều nhận lãnh (Thập thụ); Ba lời nguyện (Tam nguyện); Nhiếp thụ; Nhất thừa.

Chương Như lai chân thật công đức nói về ý nghĩa công đức chân thật của Như lai, qua lời xưng tán Như lai của Phu nhân Thắng Man và Phu nhân đã được đức Thế Tôn khuyến tấn và thọ ký sẽ thành Phật hiệu Phổ quang Như Lai… với quốc độ không có các ác thú, không có các sự khổ của già, bệnh, suy vi, ưu não, không thích ý và cũng không có tên gọi của các bất thiện nghiệp đạo. Các chúng sinh ở thế giới ấy đều thuần là Đại thừa và những chúng sinh tu tập hết thảy thiện căn của các thế giới đều tập hợp về cõi ấy.

Các chương Thập đại thụ, Tam nguyện, Nhiếp thọ là nói về phát bồ đề tâm mà nội dung của phát bồ đề tâm ở kinh Thắng Man là lãnh thọ giới pháp, phát khởi đại nguyện và nhiếp thọ chánh pháp, khiến chánh pháp không bị dứt mất. Chánh pháp chính là bản thể Nhất thừa hay là thể tính tuyệt đối của Như lai tạng.

Chương Nhất thừa là nói là kết quả tất yếu của sự phát khởi Bồ đề tâm và quá trình nuôi dưỡng, phát triển tâm ấy đến chỗ hoàn mãn từ nơi quy kính, đại thọ, tam nguyện và nhiếp thọ chánh pháp.

Tám chương giữa là minh họa cảnh giới của Nhất thừa hay gọi là Nhất thừa cảnh hay là chứng nhập cảnh giới của Như lai tạng tính gồm: Vô biên Thánh đế; Như lai tạng; Pháp thân; Không nghĩa ẩn phú chân thật; Nhất đế; Nhất y; Điên đảo chân thật; Tự tính thanh tịnh.

Trong tám chương này, phần Như lai tạng là giáo nghĩa chủ não của kinh Thắng Man. Vì sao? Vì Như lai tạng là pháp giới tạng; là pháp thân tạng; là xuất thế gian thượng thượng tạng; là tự tính thanh tịnh tạng.

Chương mười bốn nói về Chân tử là nói về con đích của Phật, do nhận ra Như lai tạng tính, được sinh ra và lớn lên từ nơi chủng tử bồ đề. Nghĩa là tu tập không đi từ nơi tâm bồ đề, không đi từ nơi nguyện và hạnh bồ đề, thì cho dù tu đến mấy đi nữa, vẫn không phải là con đích của Phật. Con đích của Phật là phải được sinh ra từ nơi miệng của Phật; từ nơi Như lai tạng tính hay thể tính bồ đề mà biểu hiện, được nuôi dưỡng từ sinh chất của trí tuệ và từ bi và nhất định phải được chư Phật hộ niệm và thọ ký, để được dự phần vào chánh pháp của các Ngài.

Chương cuối cùng là Thắng Man. Chương này nói giáo nghĩa Như lai tạng được nêu lên với mười lăm tên gọi khác nhau và tên gọi nào cũng diễn tả ý nghĩa sâu xa của Như lai tạng tính qua nhiều cách phô diễn khác nhau.

Như vậy, hai chương sau cùng là nói về Nhất thừa hạnh, qua hộ pháp và truyền pháp.

Cũng hai chương này, cho ta biết đối tượng nghe Nhất thừa pháp ở kinh Thắng Man là những hàng Bồ tát đã thành tựu Tùy tín tăng thượng, thậm thâm pháp trí, tùy thuận pháp trí; và nhờ đức Như lai hộ niệm.
 
Đặc điểm của kinh Thắng Man

Điểm đặc biệt của kinh này là nói về Nhất thừa qua Như lai tạng tính. Và sử dụng hình ảnh người nữ là Thắng Man phu nhân để diễn trình giáo nghĩa Nhất thừa thể qua Như lai tạng tính và đã được đức Phật ấn chứng.

Chuyện Long nữ thành Phật ở kinh Pháp Hoa là nét đặc thù hay là diệu pháp của kinh ấy. Nói lên Phật tính bình đẳng ngay nơi mọi giới nam nữ của hết thảy chúng sinh. Ở chương mở đầu của kinh này, Phu nhân Thắng Man được đức Thế Tôn thọ ký thành Phật, hiệu Phổ quang Như lai, nhằm phô diễn ở Như lai tạng tính không có giới tính nam nữ mà chỉ có thể tính thanh tịnh chân thật, chiếu sáng cùng khắp.

Kinh Kim Cang Bát Nhã, giáo nghĩa Nhất thừa mà kinh này muốn nói là tuyệt bặt mọi ý niệm về ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả trong mọi hành động tu tập của Bồ tát, thì sự tu học mới có kết quả là thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ đề như kinh nói: “Vô ngã tưởng, vô nhân tưởng, vô chúng sinh tưởng, vô thọ giả tưởng tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề”.            

Nghĩa là: “Nghĩa là tu tập hết thảy thiện pháp không khởi lên ý tưởng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, mới thành tựu đạo quả Vô thượng bồ đề”.

Kinh Kim Cang Bát Nhã trong văn hệ Hán tạng, ta không thấy từ ngữ nào về Nhất thừa mà đã sử dụng các từ ngữ như: Bồ tát Đại thừa, bản dịch của Bồ Đề Lưu Chi, tr 752, Đại Chính 8. Nhưng ở trong Phạn văn của kinh này có các từ ngữ Agrayāna và śreṣṭhayāna, ngài La Thập, Nghĩa Tịnh dịch là Đại thừa, Tối Thượng Thừa; ngài Huyền tráng dịch Tối Thượng Thừa, Tối Thắng Thừa…

Các kinh điển Phật giáo Đại thừa đề cao Nhất thừa hay Phật thừa như Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Quảng Kinh (Đại Chính 12), Bát Nhã, Kim Cang Tam Muội Kinh (Đại Chính 9), Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Đại Chính 9), Hoa Nghiêm Kinh (Đại Chính 9-10), Phạm võng kinh (Đại Chính 24), Đại Bát Niết Bàn Kinh (Đại Chính 12)

Các văn hệ kinh điển này, đều đề cao Phật tính và cho rằng, hết thảy chúng sinh đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật.

Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Quảng Kinh (Đại Chính 12), đề cao Phật thể hay Phật tính từ Như lai tạng là chân thật và thực hành Nhất thừa thể, qua Bồ tát đạo với các pháp quy y, thọ giới và phát nguyện. Nội dung của sự thực hành ở trong các phẩm Mười đại thọ, Ba đại nguyện và Nhiếp thụ chính pháp.

Kim Cang Tam Muội Kinh, theo Nguyên Hiểu (617-?)  là kinh Nhiếp Đại thừa kinh, vì “Không có chỗ nào là không thiết lập, nên gọi là Nhiếp Đại thừa kinh”. (Đại chính 34, tr 0961a).

Ngài Khuê Phong-Tông Mật (780-841) cho rằng, kinh Hoa Nghiêm là giáo pháp Nhất thừa cùng tột, là giáo pháp ẩn mật không cần phương tiện, chỉ thẳng tự tâm, tức là chân tính bản giác. Chân tính ấy vốn xa lìa các vọng tưởng chấp trước, thấy được trí tuệ sâu rộng của Như lai ở trong tự thân, nên cho rằng Nhất thừa là hiện thị tự tính. (Ngũ giáo).

Ngài Nguyên Hiểu (618-?) người Tân La (Triều Tiên) phân có hai loại Nhất thừa gồm: Nhất thừa phần giáo và Nhất thừa Mãn giáo. Nhất thừa mãn giáo là kinh Hoa Nghiêm và Nhất thừa phần giáo là các kinh không thuộc viên giáo. (Hiểu Công Tứ Giáo).

Tuy các kinh điển Đại thừa đều đề cập đến Nhất Thừa, nhưng Nhất Thừa được đề cập ở kinh Thắng Man là là nói Như lai tạng thể chính là Nhất thừa. Không biết về Như lai tạng thể thì không thể phô diễn Nhất thừa. Do Phu nhân Thắng Man phô diễn được Nhất thừa thể ngay ở trong sự ca ngợi những phẩm tính công đức siêu việt của Như lai, nên Phu nhân đã được đức Thế Tôn ấn chứng cho sự lãnh hội này và thọ ký cho thành Phật trong tương lai với Phật hiệu Phổ Quang Như Lai…

Giáo nghĩa Như lai tạng

Giáo nghĩa chủ yếu của kinh Thắng Man là nói đến bản thể tuyệt đối của Như lai tạng.

Ở kinh Thắng Man, Nhất thừa là cỗ xe duy nhất vận chuyển những ai đã nhận ra nơi chính mình có Như lai tạng tính, ấy là nhận ra bản thể tuyệt đối của Nhất thừa hay Phật đạo.

Bản thể tuyệt đối Nhất thừa chính là Pháp thân, ấy là phẩm tính siêu việt của Như lai hay là sự hiển thị thanh tịnh tuyệt đối của Như lai tạng tính.

Phát khởi Bồ đề tâm là từ Như lai tạng tính hay từ Pháp thân chân thật mà phát khởi và nuôi dưỡng tâm ấy liên tục, qua sự quy kính các phẩm tính giác ngộ siêu việt của Như lai; qua sự lãnh thọ và thực hành giới pháp; qua sự phát khởi và thực hành đại nguyện và qua sự nhiếp thọ chính pháp cho đến khi thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ đề, ấy là thành tựu bản thể Nhất thừa.

Hộ trì Chánh pháp chính là hộ trì chủng tử bồ đề nơi chính mình và ở nơi hết thảy chúng sinh. Con đích của Phật là từ nơi chủng tử bồ đề hay từ Như lai tạng tính mà sinh ra và lớn lên bằng những sinh chất của trí tuệ và từ bi; được bảo bọc bởi bào thai của thiền định; được nuôi dưỡng và trưởng thành bằng chất sữa kham nhẫn và nhu hòa giữa tử sinh khổ lụy mà không hề thoai thất bồ đề tâm nguyện, sống vững chãi giữa cõi đời đầy năm sự dơ bẩn mà tâm chí không hề khởi lên một mảy may dao động.
 
Khởi nguyên giáo nghĩa Như lai tạng

Như lai tạng bắt đầu từ đâu trong các kinh điển Phật giáo? Sau khi thành đạo, đức Phật đến vườn Nai để hóa độ năm anh em Kiều-trần-như là năm người bạn cùng tu với mình ngày trước và họ đã gọi Ngài là Hiền giả, nhưng đức Phật nói với họ rằng, đừng gọi Ngài là Hiền giả mà gọi là Như lai. Và đức Phật cũng nói với họ rằng: “Quý vị không nên gọi Như lai là Trưởng lão, khiến quý vị suốt đêm trường không có lợi ích. Hỡi quý vị! Như lai đã chứng được pháp Cam lồ, đã biết rõ con đường hướng đến Cam lồ, Như lai chính là đấng Giác ngộ, đầy đủ tất cả trí, đã được tự tại, tịch tịnh, các sai lầm đã hoàn toàn dứt sạch…”. (Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh 11, tr607b, Đại Chính 3).

Sau đó, đức Phật chuyển vận Pháp luân bằng cách nói cho năm anh em Kiều-trần-như rằng: “Người xuất gia có hai việc cần phải tránh, đó là đam mê các dục và tránh tư duy thiếu chân chính, tự mình ép xác khổ hạnh để mong cầu giải thoát. Những hạng người như thế, trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều tự nhận lấy khổ báo”.

Đức Phật đã dạy họ cần từ bỏ hai cực đoan ấy và thực hành Trung đạo và Trung đạo ở đây là Bát Chánh Đạo.

Và, Ngài chuyển vận Pháp luân ba lần với đầy đủ mười hai hành tướng Tứ Thánh Đế. (Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luận Kinh, số 110, tr504, Đại Chính 2).

Sau bài kinh Chuyển Pháp Luân, đức Phật lại giảng tiếp cho năm anh em Kiều-trần-như bài Pháp Vô ngã tướng: “Ngài dạy rằng, năm uẩn là Vô thường, nên trong năm uẩn không có cái gì là ta, cái gì là của ta… Quý vị quán chiếu như vậy rồi, quý vị biết rõ thế gian không có ai đuổi bắt, không có cái gì để đuổi bắt và cũng không có cái bắt đuổi. Điều đó chỉ tự thân giác ngộ và chứng đạt Niết bàn. Việc sinh tử đã hết. Phạm hạnh đã lập thành. Điều đáng làm, làm xong. Không còn tái sinh nữa”. (Ngũ Uẩn Giai Không Kinh, Tạp A Hàm, số 102, tr499, Đại Chính 2).

Như lai tạng hay Tính-không của Phật giáo Đại thừa khởi điểm từ hai bản kinh này.

Như lai, tiếng Phạn Tathāgata, nghĩa là người đạt tới chân như. Chân như ấy ở đâu, ở nơi Như lai tạng (Tathāgatagarbha). Như lai tạng ở đâu, ở ngay nơi thân năm uẩn, bị chôn vùi và trói buộc bởi những hạt giống chấp thủ năm uẩn là tôi, là của tôi hay mỗi uẩn là tôi, là của tôi ở nơi thân tâm năm uẩn của hết thảy chúng sinh.

Vì vậy mà chúng sinh bị trói trong tà kiến, ái nghiệp và bị gió thổi nghiệp phăng vào đại dương sinh tử, trôi nổi bềnh bồng giữa biển cả khổ đau vô tận. Tuy nhiên, Như lai vẫn trôi nổi phiêu bồng với nghiệp thức chúng sinh trong thai tạng ấy, trải qua vô lượng kiếp mà không hề ô nhiễm, nên gọi là Như. Và khi các thiện căn hội đủ với các duyên Tăng thượng giới, Tăng thượng định, Tăng thượng tuệ, khiến chủng tử Bồ đề phát triển lớn mạnh và thuần thục từ thai tạng, thì thai tạng tự vỡ tung để Như xuất hiện một cách chân thật toàn giác và sáng choang gọi là Lai.

Canh ba đêm thành đạo của đức Phật là đêm đánh dấu một lịch sử hoàng son nhất mà thai tạng nhiễm ô, bị vỡ tung từng mảnh và biến mất hay tự chuyển y, khi Ngài đạt tới Lậu tận minh và tự tuyên bố: “Sinh đã tận. Phạm hạnh đã thành. Điều đáng làm, làm xong. Vĩnh viễn không còn táí sinh”. Bước ra khỏi thai tạng nhiễm ô, Ngài trở thành Như lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh biến tri, bậc Giác ngộ hoàn toàn.

Như lai là vậy. Nên, trước khi chuyển vận Pháp luân đức Phật dạy cho năm anh em Kiều-trần-như là đừng gọi Ngài là Hiển giả hay Trưởng lão mà bị sống trong đêm dài tăm tối hãy gọi Ngài là Như lai.

Như vậy, Như lai là bậc đã đạt đến chơn như từ Như lai tạng và từ Như lai tạng mà xuất hiện bằng tất cả Bồ đề tâm nguyện để hóa độ chúng sinh dưới nhiều hình tướng ứng hóa thân, trải qua nhiều đời kiếp với nhiều hình thức khác nhau.

Trong Như lai có các thuộc tính Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn.

Trong Như lai thì có Mười sức mạnh trí tuệ, có Bốn vô sở úy, có Bốn biện tài vô ngại và Mười tám pháp bất cộng.

Như lai là vậy, nên tu tập chỉ cần buông bỏ sự chấp thủ năm uẩn từ thô đến tế, đoạn sạch các tập khí vô minh phiền não thì Như lai hiện ra từ thai tạng, từ năm uẩn nhiễm ô của chúng sinh. Ngay nơi năm uẩn mà sống đời thanh tịnh. Vì vậy, Như lai nào có đến từ đâu, có đi về đâu. Như lai là thường tính giác ngộ nơi tâm của hết thảy chúng sinh vậy, hay Như lai là thường trú ở nơi Như lai tạng thể, không hề biến đổi, không hề sinh diệt.

Nên, giáo nghĩa Như lai tạng không phải là tư tưởng xuất hiện hậu kỳ của Phật giáo mà nó xuất hiện ngay trong hai bài kinh đức Phật giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều-trần-như tại vườn Nai vậy.

Như lai tạng tính ấy, đức Phật đã nhận ra ngay khi các lậu hoặc đoạn tận vào canh ba của đêm thành đạo và ngay lúc đó Ngài  nghiễm nhiên trở thành Như lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh biến tri.

Như lai tạng cũng đã được đức Phật đề cập đến trong thời kỳ Ngài nói về A-hàm được ghi lại ở Tự phẩm, Tăng Nhất A-hàm 1, tr550c3, Đại Chính 2, như sau: “Người nào chuyên tâm trì tụng kinh Tăng Nhất, tức là Tổng trì Như lai tạng”.

Câu chuyện đối thoại giữa đức Phật với một Phạm-chí 120 tuổi, về chuyện Như lai có nhập thai hay không nhập thai, được ghi lại trong “Hoàng lô viên” giúp ta thấy thêm giáo nghĩa Như lai tạng không phải là tư tưởng phát triển về thời hậu kỳ Phật giáo.

Câu chuyện đối thoại như sau: “Phạm-chí hỏi: Cù-đàm không nhập thai à!”.

Đức Thế Tôn trả lời: “Có sự kiện khiến Ta không nhập thai, nhưng không phải như lời ông nói. Nếu Sa-môn, Phạm-chí nào đối với thai sàng tương lai, với trí tuệ tuyệt diệt, đoạn tận, nhổ sạch gốc rễ, không khiến tái sinh trở lại, Ta nói người ấy không nhập thai. Thai sàng tương lai của Như lai với trí đoạn tận, tuyệt diệt, gốc rễ nhổ sạch, không còn tái sinh, do đó Ta không còn nhập thai. Đó là sự kiện, khiến Ta không còn nhập thai, chứ không phải như lời ông nói”.

Này Phạm-chí: “Ta ở nơi những chúng sinh này, đến từ vô minh, yêu thích vô minh, bị vô minh che phủ, bị bọc trong vỏ trứng vô minh; Ta là người đầu tiên nhìn thấy pháp. Cho nên, ở trong chúng sinh, Ta là tối tôn, bậc nhất. Cũng như một con gà mái, sinh 10 hoặc 12 trứng. Nó thường xuyên nghĩ nhớ đến, thường xuyên che phủ, thường ấp cho ấm, thường xuyên gìn giữ. Một thời gian sau, con gà mái buông lung, và trong đó gà con có thể dùng mỏ để mổ, hoặc dùng móng chân chọi vỡ vỏ trứng mà tự thoát yên ổn. Con gà con đó là bậc nhất. Ta cũng như vậy, Ta ở nơi những chúng sinh này, đến từ vô minh, yêu thích vô minh, bị vô minh che phủ, bị bọc trong vỏ trứng vô minh; Ta là người đầu tiên nhìn thấy pháp. Cho nên, ở trong chúng sinh, Ta là tối tôn, bậc nhất”. (Hoàng Lô Viên Kinh, Trung A-hàm, tr679, Đại Chính 1).

Qua câu chuyện Hoàng lô viên, được ghi lại ở Trung A-hàm, giúp cho ta biết rằng, các nhà Phật học về sau giải thích “Như lai tại triền” là Như lai bị bọc ở trong vỏ trứng vô minh nơi tâm của chúng sinh và “Như lai xuất triền” là Như lai đập vỡ vỏ trứng vô minh mà bước ra là có căn cứ trên nguồn giáo lý buổi đầu của đức Phật giảng dạy mà các nhà Phán giáo về sau như ngài Trí khải (538-597), gọi là thời kỳ Tạng giáo, thỉ giáo và ngài Hiền thủ (643-712), gọi là thời kỳ Tiểu thừa giáo.

Như lai tạng về sau được các kinh điển Đại thừa thuộc hệ Như lai tạng khai triển một cách sâu rộng như ở các kinh: Đại Phương Quảng Như Lai Tạng Kinh, do Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra: 359 – 429) dịch từ Phạn sang Hán. Phật-đà-bạt-đà-la, dòng họ của Phật Thích Ca, cháu của Cam-lồ-phạn vương, ở nước Ca-tỳ-la-vệ, mười ba tuổi xuất gia học thông kinh luận, sau đó Ngài đến nước kế-tân, nay là vùng Kashmir, thuộc Tây Bắc Ấn Độ, học với Phật-đại-tiên (Buddhasena), một vị luận sư nổi tiếng của Nhất-thiết-hữu-bộ (Sarvāstivada).  Sau đó nhận lời mời của Trí nghiêm, Ngài đã đến Trung quốc, khoảng năm Hoằng Thủy thứ 10 (408), đời Hậu Tần, ở Trường An để dạy Thiền, sau đó Ngài đến Lô sơn của ngài Tuệ viễn và dịch nhiều kinh điển tại trú xứ này. Bản Đại Phương Quảng Như Lai Tạng Kinh của Ngài dịch, hiện có ở trong Đại Chính 16. Vào đời Đường, ngài Bất-không (Amoghavajra: 705 – 774) dịch lại bản kinh này, nhưng có thêm những chi tiết hữu ích cho việc nghiên cứu, cũng để tên kinh như Phật-đà-bạt-đà-la, hiện có trong Đại Chính 16.

Ngài Bất-không, còn gọi là Bất-không-kim cương. Ngài người nước Sư-tử, tức là Tích Lan ngày nay. Năm 14 tuổi theo ngài Kim-cương-trí học chương Tất-đàm, trì tụng bằng tiếng Phạn. Ngài đến Lạc dương, đời Đường Huyền Tôn và dịch rất nhiều kinh từ tiếng Phạn sang Hán. Ngài đã đóng góp rất nhiều cho Mật giáo của Phật giáo Trung quốc và thế giới.

Ở kinh này, bản dịch của Phật-đà-bạt-đà-la, đức Phật đã gọi Kim-cương-tuệ và đại chúng Bồ tát mà nói: “Như vô số hoa sen, được Phật biểu hiện, bỗng nhiên héo úa, trong hoa sen ấy có vô số hóa Phật, ngồi với tư thế hoa sen, phóng ra ánh sáng vô lượng, không ai là không cung kính. Ta nhìn bằng mắt Phật, thấy hết thảy chúng sinh ở trong các loại phiền não tham dục, sân nhuế, si mê có Như lai trí, Như lai nhãn, Như lai thân, ngồi với tư thế hoa sen lặng yên, bất động. Hết thảy chúng sinh thân, tuy ở trong các sinh thú phiền não, nhưng có Như lai tạng, thường không bị nhiễm ô”. (tr457b, Đại Chính 16).

Cũng đoạn kinh này bản dịch của ngài Bất-không ta thấy: “Ví như các hoa sen do Như lai hóa hiện này, bỗng nhiên héo úa, màu sắc xấu xa, có mùi hôi hám, chẳng ưa thích chút nào, trong hoa sen như vậy lại hiện ra hình tướng Phật, ngồi với tư thế hoa sen, phóng ra trăm ngàn ánh sáng, tướng tốt trang nghiêm, ai nhìn thấy cũng đều ưa thích. Thấy biết như vậy rồi, có nhiều chư thiên, dược xoa, càn thát bà, a tu la, khẩn na la, ma hầu là già, nhân và phi nhân… đều cung kính lễ bái. Này thiện nam tử, với Như lai, bậc chánh biến tri, bằng ánh sáng tri tuệ của Phật, trong những dục vọng, sân hận, si mê, tham trước, vô minh, phiền não của hết thảy chúng sinh, nơi những thiện nam tử, thiện nữ nhân kia, bị phiền não nhấn chìm, nhưng trong thai tạng có hàng trăm ngàn vạn ức chư Phật đều như Ta. Với con mắt trí tuệ của Như lai quán sát thấy trong các vị ấy đều có tự thể Phật pháp, ngồi với tư thế hoa sen lặng yên, bất động.  Ở trong hết thảy phiền não nhiễm ô ấy, Như lai pháp tạng vốn không hề dao động, không hề bị ô nhiễm ở trong các sinh thú. Do đó, Ta nay nói rằng: Hết thảy chúng sinh với hết thảy Như lai cùng với ta không khác”. (tr461bc, Đại Chính 16).

Tiếp theo, kinh nêu lên chín thí dụ gồm: Hoa sen úa héo; Mật trong tổ ong; Hạt gạo bọc trong trấu; Thoi vàng trong hầm xí; Hầm mỏ quý trong nhà người nghèo; Mầm mộng của cây Đại thọ vương; Tượng Phật vàng bọc trong miếng giẻ rách tanh hôi; Người con gái xấu xí mang thai vị chuyển luân vương; Tượng quý nằm ở trong khuôn đúc nhớp nhúa, để minh họa Như lai tạng là “Như lai tại triền”. Nghĩa là Như lai bị phiền não trói buộc ở trong thai tạng, nhưng không hề ô nhiễm.

Tư tưởng Như lai tạng cũng đã được đức Phật đề cập ở trong kinh Bất Tăng Bất Giảm. Kinh này được Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci), dịch từ Phạn sang Hán vào thời Nguyên Ngụy, khoảng năm 525 TL. Ngài người Bắc Ấn Độ, là nhà Phật học Đại thừa thuộc hệ Du già. Học thông tam tạng giỏi chú thuật, khoảng năm 508 TL, đời vua Tuyên Đế, Bắc Ngụy, Ngài đến Lạc Dương, Trung quốc ở chùa Vĩnh Minh và dịch các kinh điển từ Phạn sang Hán. Trong đó có bản Bất Tăng Bất Giảm Kinh, hiện có ở Đại Chính 16.

Ngài dựa vào kinh Đại Bát Niết Bàn mà phán giáo kinh Phật dạy có hai loại gồm: Bán tự giáo và Mãn tự giáo. Bán tự giáo là pháp đức Phật nói mười hai năm đầu từ khi Ngài thành đạo là Bán tự giáo, giáo lý nội hàm chỉ có nửa chữ, nghĩa là chưa đầy đủ nghĩa lý mà Phật muốn nói. Còn pháp được Phật nói từ mười hai năm sau Phật thành đạo là Mãn tự giáo, nghĩa là giáo lý nội hàm với chữ nghĩa đầy đủ là điều mà Phật muốn nói. Năm sinh và năm mất của Ngài, không rõ.

Kinh này mở đầu, Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi Phật về số lượng Tăng giảm của chúng sinh trong dòng sinh tử rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Hết thảy chúng sinh từ vô thỉ đến nay, bị trói buộc ở trong lục đạo, qua lại trong ba cõi, ở trong bốn loài, luân hồi sinh tử đau khổ vô cùng, biển cả của chúng sinh, sự tụ hợp của chúng sinh có tăng giảm hay là không tăng giảm, nghĩa này ẩn sâu con không thể hiểu, nếu có người hỏi con, con phải trả lời như thế nào? Đức Phật dạy cho Tôn giả Xá-lợi-phất, chúng sinh do không biết nhất pháp giới, khởi tà kiến thấy chúng sinh giới tăng, thấy chúng sinh giới giảm. Này Xá-lợi-phất, Như lai còn tại thế, đệ tử của ta không nên khởi lên tà kiến tăng giảm này… Này Xá-lơi-phất, trí tuệ mà hàng Thanh văn, Duyên giác có được đối với nghĩa Nhất pháp giới này chỉ có đem lòng tin mà khát ngưỡng, chứ không có khả năng quán sát để thấy được đúng như thực. Này Xá-lợi-phất, nghĩa thâm sâu của Nhất pháp giới, là Đệ nhất nghĩa đế. Đệ nhất nghĩa đế, chính là Thế giới chúng sinh; Thế giới chúng sinh chính là Như lai tạng; Như lai tạng chính là Pháp thân. Này Xá-lợi-phất, nghĩa Pháp thân được nói bởi Ta, trải qua hằng hà sa số thời gian, không ly, không thoát, không đoạn diệt, không biến đổi, là Phật pháp không thể nghĩ bàn là công đức trí tuệ của Như lai”.

Tiếp theo đức Phật nói: “Pháp thân không sinh diệt… không ly chúng sinh giới có pháp thân; chúng sinh giới, chính là pháp thân, pháp thân chính là chúng sinh giới, nghĩa của hai pháp này có một tên mà gọi cách khác”.

Tuy nhiên, đức Phật cũng nói với Tôn giả Xá-lợi-phất trong chúng sinh giới có ba chủng loại:

1. Tự thể và pháp thanh tịnh tương ưng với bản tế của Như lai tạng. Pháp này là như thực, không hư dối, không ly, không thoát, là trí tuệ thanh tịnh, là pháp giới chân như, là pháp không thể nghĩ bàn. Đây là bản tế từ vô thỉ đến nay là pháp thể tương ưng với thanh tịnh hằng hữu ở trong Như lai tạng này. Này Xá-lợi-phất, Ta y cứ vào pháp giới chân như thanh tịnh này mà nói với chúng sinh tự tính nơi tâm vốn thanh tịnh là pháp không thể nghĩ bàn.

2. Bản tế Như lai tạng không tương ưng tự thể, bị phiền não trói buộc là pháp không thanh tịnh. Đây là bản tế từ trước đến nay, không tương ưng tự thể Như lai tạng, có ly, có giải thoát, bị phiền não trói buộc là pháp không thanh tịnh. Nó chỉ bị chặt đứt bởi trí tuệ bồ đề của Như lai. Này Xá-lợi-phất, Ta y cứ vào Như lai tạng bị phiền não trói buộc, không tương ưng với tự thể bản tế nơi pháp giới không thể nghĩ bàn, mà vì chúng sinh, nên nói Như lai tạng bị ô nhiễm bởi khách trần phiền não.

3. Như lai tạng là pháp hằng hữu, bình đẳng, suốt tận biên cương vị lai. Nó chính là căn bản của hết thảy mọi pháp; hết thảy pháp đều hoàn bị; hết thảy đều đầy đủ; hết thảy pháp chân thực, nắm giữ hết thảy pháp, nhiếp thủ hết thảy pháp, ngay ở trong các pháp thế gian, không ly, không giải thoát. Này Xá-lợi-phất, Ta y cứ vào pháp hằng hữu, bất sinh, bất diệt, thường trong mát này mà nương tựa không biến đổi. Ấy là tên gọi khác của pháp giới thanh tịnh bình đẳng. Vì ý nghĩa ấy, nên ta y cứ vào ý nghĩa của pháp ấy mà nói là chúng sinh. (Phật Thuyết Bất Tăng Bất Giảm Kinh, tr466 – 467, Đại Chính 16).

Như vậy, ở kinh này, đức Phật nói về Như lai tạng tính vốn thanh tịnh từ vô thỉ đến vô chung. Như lai tạng, tuy bị khách trần trói buộc, nhưng bản chất vẫn thanh tịnh, không bị ảnh hưởng bởi khách trần phiền não. Tự tính của chúng sinh vốn thanh tịnh, nên gọi chúng sinh giới bình đằng. Và vì tự tính ấy nơi chúng sinh không sinh diệt, vì nó đồng ở một pháp giới thanh tịnh của tự tính, nên hiện tượng khách trần phiền não có sinh diệt, có đến, có đi, có trói buộc, có giải thoát, nhưng như tính thanh tịnh, hay Như lai tạng thì chẳng có đến, chẳng có đi, chẳng có sinh, chẳng có diệt, chẳng có tăng, chẳng có giảm gì cả, vì chúng vốn là Như, là Chân như vậy.

Tư tưởng Như lai tạng cũng được kinh Phật Thuyết Vô Thượng Y đề cập. Kinh này, ngài Chân Đế (Paramārtha: 499 – 569) dịch từ Phạn sang Hán dưới triều nhà Lương, niên hiệu Thiệu Thái năm 557 TL. Ngài tên Paramārtha (Chân-đế), còn có tên là Kulanātha (Câu-la-na-đá) là người nước Ujjaini (Ưu-thiền-ni), Tây bắc Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà-la-môn, họ Bhārata (Phả-la-đọa). Ngài thông minh, nhớ lâu, biện luận giỏi, lúc còn nhỏ nghiên cứu tinh tường bốn bộ Vệ-đà, sáu bộ luận, quán thông tam tạng, rõ suốt diệu lý Đại thừa. Năm 546, ngài mang nhiều kinh điển tiếng Phạn đến Trung quốc vào Kiến nghiệp, thời Vũ đế, sau đó gặp thời loạn, Ngài đi đến các tỉnh Giang tô, Chiết giang, Giang tây, Phúc kiến, Quảng châu… đi đến đâu Ngài cũng dành thời gian để dịch kinh với 64 bộ, 278 cuốn, hiện chỉ còn 36 bộ, đa số là những kinh điển trọng yếu cho việc nghiên cứu Phật giáo. Phật Thuyết Vô Thượng Y Kinh, do Ngài dịch, hai cuốn, hiện có ở Đại Chính 16.

Kinh này có bảy phẩm, nhưng phẩm Như lai giới là phẩm đề cập đến Như lai tạng, chính là Pháp thân thường trú, đó Vô thượng y. Nghĩa là nơi y chỉ tối thượng làm sở  y cho hết thảy chúng sinh giới. Chúng sinh giới là chúng sinh đang bị bọc trong vỏ trứng phiền não. Như kinh đức Phật nói với Tôn giả A-nan rằng:

Ta nay nói tự tính. Như lai là tính chân thực của hết thảy Như lai, trải qua hằng hà sa số kiếp không thể cộng đếm. Như lai giới là từ nơi tự tính Như lai mà biểu hiện. Các giới như nhân loại, hiền, thánh do tin tưởng và yêu thích sâu xa vào lời nói chân chính mà được thành tựu thân ở nơi giới, định, tuệ. Nên, thân ấy gọi là Pháp thân; Pháp thân tương nhiếp không cùng tách rời. Trí bất xả, không hiểu, ấy cũng gọi là y vào trì nhiếp và y cứ vào chỗ trì nhiếp. Nếu pháp không cùng nhiếp phục, không cùng ly trừ, trí không xả, không hiểu, ấy cũng là y, là trì, là xứ. Nên, Ta nói hết thảy kho tàng pháp không thay đổi, nên gọi là như như; không điên đảo, nên gọi là thực tế; siêu việt hết thảy tướng, nên gọi là tịch diệt; chỗ thánh nhân thực hành cảnh giới của trí vô phân biệt, nên gọi là đệ nhất nghĩa. Đó là cảnh giới của Như lai, không phải có, không phải không; không phải nhiễm, không phải tịnh, tương ưng với tự tính thanh tịnh, vô cấu”.

Này A-nan! Thế giới Như lai không thể nghĩ bàn là gì? Đó là thế giới Như lai, ở ngay trên mảnh đất nhơ nhớp sinh tử. Tịnh hay bất tịnh đều có mặt cùng một lúc. Ấy là chỗ không thể nghĩ bàn. Y vào lý nghĩa thâm diệu mà được giải thoát. Không phải là cảnh giới của A-la-hán và Bích-chi-phật thành tựu”. (Vô Thượng Kinh, tr470bc, Đại Chính 16).

Một trong những tư tưởng chủ yếu của kinh này là nói về Tự tính Bồ đề: “Đức Phật nói với Tôn giả A-nan, Tự tính Bồ đề là gì? Đó là mười địa, mười ba la mật, như lý và như lượng mà tu tập con đường xuất ly, sự đạt được do chuyển y, minh tịnh, tịch tĩnh, không phải là cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác, đó gọi là Tự tính của Bồ đề”(Vô Thượng Y Kinh, tr470c, Đại Chính 16).

Đức Phật lại nói với Tôn giả A-nan: “Đối với thế giới mà màng trứng phiền não chưa loại trừ, ta gọi đó là Như lai tạng, đến chỗ thanh tịnh cùng tột, Ta gọi đó là pháp chuyển y. Tướng trạng chủng tử của nó có bốn loại:

1. Sinh khởi duyên: Duyên là điều kiện cho sự sinh khởi, phát sinh dòng tương tục của Như lai, ấy là không gian sinh khởi để đạo bồ đề sinh ra.

2. Diệt tận duyên: Duyên là điều kiện cho sự diệt tận tất cả những phẩm loại căn bản phiền não. Các loại căn bản phiền não do y vào pháp này mà diệt tận.

3. Sở tri pháp quả: Chân như là quả pháp chứng được, bởi sở tri do tư duy đã thuần thục thông đạt.

4. Pháp giới thể: Các hành tướng phiền não trói buộc diệt trừ, tự thể của pháp giới vô cùng thanh tịnh được hiển thị. Đó là tướng chuyển y. Chuyển y là tự tính Bồ đề của Phật-Thế Tôn-Bậc Vô thượng giác”(Vô Thượng Y Kinh, tr470c, Đại Chính 16).

Hệ giáo nghĩa giáo lý Như lai tạng cũng là hệ giáo nghĩa chủ đạo của kinh Thắng Man. Kinh này, bản dịch của Cầu-na-bạt-đà-la (Gunabhadra: 394 -468),  nội dung có 15 chương, trong đó các chương Nhất thừa, Vô biên Thánh đế, Như lai tạng… Tự tính thanh tịnh là các chương trình bày nghĩa lý sâu xa của Như lại tạng.

Ở kinh này, Thắng Man Phu Nhân thưa với đức Thế Tôn về Tự tính Như lai tạng rằng: “Như lai tạng là pháp không có tiền tế, không có sinh khởi, không có hủy diệt, vì do được gieo trồng các giống khổ, nên mới có tâm chán khổ vui, cầu Niết bàn. Như lai tạng là phi ngã; phi chúng sinh; phi thọ mạng; phi nhân. Như lai tạng không phải cảnh giới kiến chấp về thân của chúng sinh, hay của chúng sinh có ý tưởng điên đảo, hay của những chúng sinh loạn ý về không. Như lai tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian thượng thượng tạng, là tự tính thanh tịnh tạng”. (Thắng Man Sư Tử Hống… tr222b, Đại Chính 12).

Ngài Cầu-na-bạt-đà-la, sinh năm 394, người miền Trung Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Lúc nhỏ học giỏi Ngũ minh, thiên văn, y phương minh, chú thuật… Sau đó, học Tạp A-tỳ-đàm-tâm luận, khiến ngưỡng mộ Phật pháp, liền xuất gia, thọ cụ túc giới. Trước đó nghiên cứu giáo lý Tiểu thừa, sau đó chuyển sang nghiên cứu giáo lý Đại thừa ở kinh Đại phẩm Bát-nhã và Hoa Nghiêm.

Năm Nguyên gia 12 (435), đời Lưu Tống, Ngài đến Trung quốc bằng đường biển, Văn Đế cho sứ rước về ở Kỳ Hoàn, Kiến Khang để phiên dịch kinh điển. Ở đây, Ngài dịch rất nhiều kinh điển từ Phạn sang Hán và giảng dạy giáo lý Đại thừa, Ngài tịch năm 75 tuổi, tức năm 468. Bản Kinh Thắng Man này, hiện có ở trong Đại Chính 12.

Kinh này, cũng đã được Bồ-đề-lưu-chí (Bodhiruci: 562 – 727), dịch được đưa vào trong Bộ Đại Bảo Tích với tên: “Thắng Man Phu Nhân Hội”, hội 48, trong 49 hội của Đại Bảo Tích, hiện có ở Đại Chính 11.

Ngài Bồ-đề-lưu-chí, sinh năm 562, người Nam Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà-la-môn, mười hai tuổi xuất gia theo ngoại đạo, thờ Ba-la-xa làm thầy. Ngài rất thông minh, giỏi thiên văn, địa lý, lịch số, chú thuật, y học. Năm 60 tuổi, mới biết đến Phật giáo, nghiên cứu, học hỏi tam tạng giáo điển với Da-xá-cù-sa năm năm. Sau đó, đi khắp thiên hạ giảng dạy giáo pháp. Ngài đến Trung quốc do vua Cao Tông nhà Đường cung thỉnh vào năm 693, ở Trường An. Sau đó Vũ hậu Tắc Thiên, thỉnh Ngài về ở Lạc Dương để dịch kinh. Ngài đã dịch rất nhiều kinh, trong đó có Thắng Man Phu Nhân Hội, ở trong bộ Đại bảo Tích.

Ngoài kinh Thắng Man, Như lai tạng cũng được đề cập ở kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm. Ở kinh này đức Phật đã khai thị cho Tôn giả A-nan và thính chúng biết rằng: Năm uẩn (năm ấm), sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới, bảy đại chủng, đều từ nơi Như lai tạng mà biểu hiện. Như lai tạng là diệu minh thường trú, châu biến cùng khắp mà bất động, bản tính chân như mầu nhiệm. Trong bản tính chân như thường tại ấy, không thể tìm thấy những ý niệm nhị nguyên như: lai khứ, mê ngộ, sinh tử. (Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, tr 114a – 119a, Đại Chính 19).

Kinh này gọi đủ Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh.  Kinh này là biệt hành trích lục ra từ Quán đỉnh bộ ở Đại Đạo Tràng Na-lan-đà Ấn Độ, do ngài Bát- lạt-mật-đế, Sa môn người miền Trung Ấn Độ, vào đời Đường, Thần Long Nguyên Niên, ở Chế chỉ Đạo Tràng Quảng Châu dịch xuất. Đệ tử Bồ tát giới, Tiền Chính Gián Đại Phu, Đồng Trung Thư, Môn Hạ Bình Chương Sự Thanh Hà-Phòng Dung, bút thọ; Sa Môn Di Già Thích Ca, nước Ô Trành dịch ngữ, hiện có ở trong Đại Chính 19, tr 105.

Ở kinh Viên giác, gọi đủ là Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh. Kinh do Phật-đà-đa-la dịch vào đời Đường, hiện có ở trong Đại Chính 17.

Kinh này nói về bản giác, chân tâm vốn có nơi hết hảy chúng sinh xưa nay vốn thanh tịnh. Bản giác hay viên giác tính là nói về Như lai tạng. Như lai tạng là nhân, viên giác là quả. Phật quả, viên giác là biểu hiện từ Như lai tạng hay từ chân tâm mầu nhiệm.

Ở kinh Kim Cang Tam muội, nội dung bao quát giáo nghĩa Đại thừa, nói về Nhất thừa, Nhất vị, Chân như, Như lai tạng… và có một chương nói về Như lai tạng. Ở chương này, đức Phật dạy cho Trưởng giả Phạm Hạnh muốn chứng nhập Như lai tạng phải tu tập ba hành. Gồm:

Tùy sự thủ hành: Các sự tướng hiện tiền đều tuân thủ và thuận hành giác tính.
Tùy thức thủ hành: Các thức uẩn đều tuân thủ và thuận hành giác tính.
Tùy như thủ hành: Tuân thủ và thuận hành chân như.

Ba pháp hành này thâu nhiếp hết thảy pháp môn. Hết thảy pháp môn đều hội nhập ở nơi ba hành này. Người nào tu tập chứng nhập ba hành này, người ấy ở nơi tướng rỗng lặng không sinh khởi. Người nào chứng nhập được như vậy, có thể bảo rằng, người ấy chứng nhập như lai tạng. Người chứng nhập Như lai tạng, người ấy chứng nhập mà không chứng nhập gì cả. (Như Lai Tạng, Kim Cang Tam Muội Kinh, Đại Chính 9).

Kinh này được dịch vào đời Bắc Lương (397 – 439), mất tên dịch giả, hiện có ở Đại Chính 9.

Như lai tạng hay pháp thân cũng đã được kinh Đại bát Niết bàn (bản Nam) Hán dịch của Tuệ Nghiêm (363 – 433) cùng với Tuệ Quán và Tạ Linh hợp dịch, đề cập ở trong các chương Kim cang thân, Tứ Đế, Tứ đảo và Như lai tính… Ở chương Như lai tạng, đức Phật nói với Tôn giả Đại-ca-diếp: “Ngã chính là nghĩa của Như lai tạng. Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính, đó là ý nghĩa của ngã. Ý nghĩa của ngã như vậy từ xưa đến nay, thường bị vô minh che khuất, nên hết thảy chúng sinh không thấy”. (Đại Bát Niết Bàn 8, tr 648b, Đại Chính 12).

Kinh này, bản dịch của Đàm Vô Sấm (385 – 433), thời Bắc lương, cũng có các chương Kim cang thân, Như lai tính, nhưng không có các chương Tứ đế, Tứ đảo… Ở chương Như lai tính của bản dịch này trình bày khác với chương Như lai tính của bản dịch Tuệ Nghiêm. Và kinh này bản dịch của Pháp Hiển (340? – 423?) thời Đông Tấn, cũng có các chương Kim cang thân, Tứ đế, Tứ đảo, Như lai tính… Ở chương Như lai tính của bản dịch này, đức Phật dạy Tôn giả Đại Ca Diếp: “Ngã chân thực là Như lai tính. Hết thảy chúng sinh đều có, chúng sinh bị vô lượng phiền não che khuất không thấy”. (Đại Bát Niết Bàn Kinh, 883b, Đại Chính 12).

Ngoài các kinh liên hệ đến Như lai tạng đã dẫn ở trên, còn có các Kinh như: Ương Quật Ma la Kinh, bốn cuốn, do Cầu-na-bạt-đà-la dịch vào thời Lưu Tống, hiện có ở Đại Chính 2. Đại Pháp Cổ Kinh, hai cuốn, cũng do Cầu- na-bạt-đà-la dịch, hiện có ở Đại Chính 9. Đại Phương Đẳng Vô Tưởng Kinh, sáu cuốn, Đàm-vô-sấm dịch vào thời Bắc Lương hay Đại Vân Vô Tưởng Kinh, cuốn thứ chín, do Trúc Phật-niệm dịch vào thời Diêu Tần, hiện có ở trong Đại Chính 12.

Ngoài các Kinh còn có các luận như: Đại thừa Khởi Tín Luận của ngài Mã Minh tạo. Nội dung luận này bàn luận về duyên khởi của Như lai tạng và hành tướng phát tâm tu hành của hàng phàm phu và Bồ tát… Luận nói về Nhất tâm tuyệt đối là chỉ cho Như lai tạng nơi hết thảy chúng sinh. Vạn hữu từ nơi Chân như hay Như lai tạng mà biểu hiện. Nhưng, Chân như hay Như lai tạng của chúng sinh là Niết bàn thường trú không sinh diệt…

Luận này, ngài Chân đế (499-569) dịch từ Phạn sang Hán, một cuốn, vào đời Lương, hiện có ở trong Đại Chính 32. Và ngài Thật-xoa-nan-đà dịch hai cuốn, vào thời Đường, hiện có ở Đại Chính 32.

Phật tính luận của ngài Thế Thân tạo. Nội dung luận là giải thích về Phật tính. Phật tính chính là Như lai tạng. Luận này cho rằng, Phật tính có ba thứ gồm:

Trụ tự tính tính: Hết thảy chúng sinh vốn có sẵn Phật tính.

Dẫn xuất tính: Phật tính do quá trình tu hành loại trừ phiền não, khiến Phật tính hiện ra.

Chí đắc tính: Đạt đến quả vị giác ngộ là viên mãn Phật tính.

Mục đích của ngài Thế Thân tạo luận này là để đả phá và nhiếp phục những người có căn khí thấp kém, thiên chấp cho rằng, hết thảy chúng sinh không có Phật tính và không có khả năng thành Phật. Luận này, ngài Chân-đế (499-569) dịch vào đời Trần của Trung quốc, hiện có ở trong Đại Chính 31.

Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính Luận, cũng còn gọi là Phân Biệt Bản Tính Chư Đại thừa Tối Thắng Yếu Nghĩa Luận của Kiên Tuệ (Sāramati). Luận này nói về Như lai Tự tính thanh tịnh. Qua luận này, giúp ta biết rất nhiều tư tưởng Như lai tạng ở Ấn Độ, sau Phật Niết bàn 700 năm. Luận có bốn cuốn do ngài Lặc-na-ma-đề dịch từ Phạn sang Hán vào đời Hậu Ngụy, hiện có ở trong Đại Chính 31. Văn hệ Tây Tạng thì cho rằng, luận này của Di Lặc tạo.

Đại thừa Pháp Giới Vô Sai Biệt Luận, cũng còn gọi là Như lai tạng luận. Do ngài Kiên Tuệ tạo luận và Đề Vân Bát Nhã dịch hoàn thành khoảng năm 691, đời Đường, hiện có ở trong Đại Chính 31. Nội dung của luận là nói về Tâm bồ đề và tính bình đẳng không sai biệt của các pháp. Luận này bàn về 12 nghĩa của tâm Bồ đề gồm: Quả, Nhân, Tự tính, Vô sai biệt, Phần vị, Vô nhiễm, Thường hằng, Tương ưng, Bất tác nghĩa lợi, Tác nghĩa lợi, Nhất tính. Tuy, luận này đề cập đến tâm Bồ đề, nhưng qua cách nhìn hay xu hướng của tư tưởng Như lai tạng. Nên Luận này còn có tên là Như lai tạng luận.

Luận này có hai bản dịch đều là của Đề-vân-bát-nhã, nhưng thời điểm hoàn thành dịch bản ghi hai thời gian khác nhau. Bản 1, đề dịch xong vào Thiên Thụ thứ 2, đời Vũ Hậu Đại Chu (691). Bản 2, niên đại phiên dịch ghi sau thời Khai Nguyên (713-741), còn đề tên là Như lai tạng luận.

Như vậy, hệ giáo nghĩa Như lai tạng trong Phật giáo Đại thừa có rất nhiều kinh điển và luận tạng giải thích, nhưng ở đây, tôi chỉ nêu lên một số kinh luận tiêu biểu.
 
Như lai tạng tính giáo nghĩa cốt tủy Đại thừa

Như lai tạng, tiếng Phạn là Tathāgatagarbha. Tathāgata là Như lai; Garbha là bào thai hay tạng.

Vậy, Như lai tạng là bào thai cất chứa Như lai hay kho tàng giữ gìn Như lai. Nên, tạng trong ý nghĩa này có nghĩa là nắm giữ, cất giữ, chứa đựng. Như lai tạng là nơi ẩn tàng pháp thân bất sinh diệt hay tự tính thanh tịnh của Như lai.
 
Theo Phật tính luận, Đại Chính 31, tr796a, tạng có ba nghĩa như sau:

1. Tạng tức sở nhiếp: Nghĩa là cái được nắm giữ, cái được duy trì. Cái ấy là chủng tử giác ngộ, là Phật tính, là Như đang ở trong bào thai của hết thảy chúng sinh có đủ cả nhiễm và tịnh. Nhiễm là chúng sinh tính. Tịnh là Phật tính. Phật tính vốn nằm sẵn trong thai bào của hết thảy chúng sinh để có thể khởi sinh bậc Giác ngộ hay Như lai, khi hội đủ nhân duyên. Điều này kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện bảo rằng: “Phật chủng tùng duyên khởi, thị cố thuyết Nhất thừa” là ấy vậy.

Vậy, Như lai tạng trong ý nghĩa này, là chủng tử đang được cất giữ để đợi hội đủ nhân duyên thì phát triển trở thành Như, nên gọi là Như lai tạng.

2. Tạng tức ẩn phú: Tạng có nghĩa bao phủ hay che giấu. Nghĩa là Như lai tính hay Phật tính vẫn hiển nhiên ở đó, ngay nơi tâm tính của mỗi chúng sinh mà chúng sinh bị vô minh, hành và vô minh trú địa che khuất, nên không nhận ra. Nếu chúng sinh nhận ra Phật tính ngay nơi tâm tính, thì chúng sinh ấy trở thành Bồ tát và tin tưởng rằng, hết thảy chúng sinh đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật và tự thân mình cũng có thể thành Phật mà phát khởi Bồ đề đại nguyện. Ở kinh Pháp Hoa, phẩm Bồ tát Thường Bất Khinh đã nhận ra phẩm tính Như lai siêu việt này nơi hết thảy chúng sinh, nên đã thực hành Bồ tát đạo một cách không mỏi mệt, bằng cách gặp ai cũng kính lễ và thưa: “Tôi không dám khinh quý vị, vì quý vị sẽ là vị Phật tương lai, mặc dù bị la chửi, nhiếc mắng”. Và người cùng tử ở kinh Pháp Hoa không nhận ra viên minh châu trong chéo áo, nên nghèo khổ khốn cùng. Cũng vậy, chúng sinh vì vô minh che phủ, không nhận ra được Như lai tạng tính ở nơi tâm thức của chính mình, nên bị trôi lăn ở trong sinh tử, chịu vô  lượng, cơ cực khốn cùng.

3. Tạng tức năng nhiếp: Tạng trong ý nghĩa này là nhiếp vào quả vị Vô thượng Bồ đề. Nghĩa là Như lai tạng từ nơi thế giới nhân duyên hữu vi, hữu lậu mà tự chứng nhập thế giới vô vi, vô lậu. Nên ở kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm, đức Phật dạy:

Với ý nghĩa này, Như lai tạng không còn là chủng tử mà đã trở thành bậc Như lai, A-la-hán, Chánh biến tri, tức là bậc Giác ngộ hoàn toàn.

Như lai tạng vốn có nơi tâm của hết thảy chúng sinh, nhưng nó lại ẩn tàng trong những lớp bụi vô minh phiền não dày đặc nơi tâm của chúng sinh. Tuy, Như lai tạng bị phiền não che lấp, nhưng những loại phiền não ấy không làm cho Như lai tạng bị ô nhiễm, đây là ý nghĩa sâu xa và then chốt của Như lai tạng.

Lại nữa, không có Như lai tạng, thì không có Đại thừa, nên giáo nghĩa Như lai tạng là giáo nghĩa Đại thừa. Chứng nhập Đại thừa, chính là chứng nhập Như lai tạng tính. Sở dĩ, gọi Thanh văn thừa, Duyên giác thừa là vì những hàng Thánh giả này hoàn toàn không nghe, không biết gì về Như lai tạng. Sự tồn tại của chánh pháp hay không tồn tại của chánh pháp là ở Như lai tạng, vì từ Như lai tạng mà phát sinh chánh pháp hay Đại thừa.Vì vậy, Phu nhân Thắng Man đã thưa với đức Thế Tôn rằng:

“Kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ đề, con sẽ không bao giờ quên mất nhiếp thọ Chánh pháp, vì sao? Vì quên mất nhiếp thọ Chánh pháp là quên mất Đại thừa; quên mất Đại thừa là quên Ba-la-mật; quên mất Ba-la-mật là không còn ước muốn Đại thừa. Nếu Bồ tát không quyết định ở nơi Đại thừa sẽ không thành tựu ý hướng nhiếp thọ chánh pháp, chứng nhập tùy sở thích, vĩnh viễn không đủ khả năng siêu việt địa vị phàm phu”. (Thắng Man Sư Tử hống… tr217c, Đại Chính 12).

Như lai tạng bao hàm luôn các ý nghĩa như Đại thừa, Nhất thừa, Tối thượng thừa, Niết bàn, Pháp thân thường trú, Tính-không, Không-trí, Tuệ giác siêu việt, Đệ nhất nghĩa đế, Nhất đế, Nhất sở y, Chân thật không điên đảo, Tổng trì hết thảy thiện pháp, Pháp giới tạng, Pháp thân tạng, Xuất thế tạng, Tự tính thanh tịnh tạng…

Như lai tạng là Đại thừa, vì sao? Vì chỉ có Đại thừa mới nói đến Như lai tạng và bản thể Như lai tạng là rộng lớn không có ngằn mé, trùm khắp hết thảy chúng sinh trong mọi không gian và trong mọi thời gian.

Như lai tạng là Đại thừa, vì sao? Vì tướng trạng của hết thảy pháp đều là tướng của Như lai tạng; từ Như lai tạng mà biểu hiện và hết thảy ứng hóa thân của Phật đều từ Như lai tạng mà lưu xuất.

Như lai tạng là Đại thừa, vì sao? Vì tác dụng của Như lai tạng là dứt trừ hết thảy điều ác, nhiếp phục hết thảy điều thiện và làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh và thường trú ở nơi tự tâm của hết thảy chúng sinh.

Vì vậy, Như lai tạng được gọi là Đại thừa. Giáo nghĩa của Đại thừa lấy Như lai tạng làm thể, nên bản thể của Đại thừa rất vi mật, sâu thẳm, thường trú rộng lớn, không biến đổi; tướng của Đại thừa là hết thảy tướng đều là vô tướng và vô tướng là hết thảy tướng của Đại thừa, chúng đều từ Như lai tạng mà lưu xuất. Dụng của Đại thừa là làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh và đưa hết thảy chúng sinh hội nhập Nhất thừa, có nghĩa là đưa hết thảy chúng sinh hội nhập với Như lai tạng tính vô sinh, bất diệt. Vì Thể, Tướng và Dụng của nó vốn như thế là như thế, nên nói Như lai tạng là Đại thừa.

Như lai tạng cũng có nghĩa là Nhất thừa, vì sao? Vì Nhất thừa thiết lập từ Như lai tạng, từ Như lai tạng mà nói nhất thừa. Vì vậy, Như lai tạng đồng nghĩa với Nhất thừa. Nên, không có Như lai tạng sẽ không có Nhất thừa.

Như lai tạng cũng có nghĩa là Tối thượng thừa, vì sao? Vì Tối thượng thừa là cùng đích của sự giác ngộ mà Bồ tát tu tập phải đạt đến cùng đích ấy. Như lai tạng tính không phải chỉ cùng đích của sự giác ngộ và mà là thường tính và bản thể thường trú của sự giác ngộ. Vì vậy, Như lai tạng có nghĩa là Tối thượng thừa.

Như lai tạng có nghĩa là Niết bàn, vì sao? Vì Niết bàn rốt ráo nhất, tuyệt đỉnh nhất là Tự tính thanh tịnh Niết bàn. Tự tính thanh tịnh là tự tính của Như lai tạng. Nên, Như lai tạng tính là Niết bàn tuyệt đối của chư Phật. Chư Phật ba đời, mười phương thường trú ở trong Tự tính Như lai tạng này. Vì vậy, Như lai tạng có nghĩa là Niết bàn.

Như lai tạng là Pháp thân, vì sao? Vì pháp thân là tự tính thân chân thật của Phật. Thân ấy ẩn chứa ở trong Như lai tạng. Nên, Như lai tạng lả pháp thân của Phật. Vì vậy, kinh Thắng Man nói: “Pháp thân của Như lai không tách rời phiền não, nên gọi là Như lai tạng”.(Thắng Man Sư Tử Hống… tr221c, Đại Chính 12).

Như lai tạng là Tính không, vì sao? Vì tự thể phiền não buộc ràng Như lai tạng, chúng vốn hư huyễn, bất thực, chỉ có Như lai tạng là chân thật, thanh tịnh, không nhiễm ô, không sinh diệt. Nên, kinh Thắng Man nói: “Trí tuệ của Như lai tạng là trí tuệ về Không của Như lai… Trí tuệ về không của Như lai có hai loại. Như lai tạng như thật không, đối với hết thảy phiền não hoặc rời xa; hoặc giải thoát; hoặc khác biệt. Như lai tạng như thật hữu là Phật pháp không thể nghĩ bàn, vượt quá số cát sông Hằng, không xa lìa, không giải thoát, không biến đối”.(Thắng Man Sư Tử Hống… tr221c, Đại Chính 12).

Như lai tạng là tuệ giác siêu việt, vì sao? Vì trí tuệ ấy, chỉ có Như lai mới có, chứ hàng Thanh văn, Duyên giác thì không thể có được, nên Như lai tạng là tuệ giác siêu việt của Như lai.

Như lai tạng là đệ nhất nghĩa đế, vì sao? Vì ở đó là tuyệt đối chân thật, không có sự chân thật nào hơn nữa. Vì đó là Niết bàn chân thật, là Niết bàn tối thượng.

Như lai tạng là nhất đế, vì sao? Vì trong Tứ thánh đế, chỉ có Diệt đế là vô vi, vô lậu, vô tác. Khổ đế, Tập đế là hữu vi, hữu tác. Đạo đế vừa hữu tác, vừa vô tác, vừa hữu vi, vừa vô vi. Bát chánh đạo là vô tác, vô vi, các chi phần trợ đạo còn lại của Đạo đế là hữu tác, hữu vi.

Như lai tạng là nhất sở y, vì sao? Vì nó là thường trú, không sinh diệt, nên nó mới làm chỗ nương tựa cho những cái khác tồn tại.

Như lai tạng là chân thật không điên đảo, vì sao? Vì Như lai tạng không phải là đối tượng của những nhận thức nhị biên, đối đãi giữa có không, thường đoạn, lai khứ, đồng nhất, dị biệt… Tất cả những nhận thức ấy đều là điên đảo, huyễn hóa, không chân thật.

Như lai tạng là tổng trì hết thảy thiện pháp, vì sao? Vì Như lai tạng thâu nhiếp hết thảy ý nghĩa Đại thừa; thâu nhiếp hết thảy vị, thành một vị là vị giải thoát. Và thâu nhiếp hết thảy công đức trí tuệ của chư Phật, vì hết thảy chư Phật từ nơi Như lai tạng mà xuất hiện với đầy đủ vô biên công đức, tướng hảo và cảnh giới trang nghiêm và thâu nhiếp vô biên ứng hóa thân thành một thân là Pháp hóa thân thanh tịnh, không sinh diệt, nghiễm nhiên, thường trú, bất động. Nên, Như lai tạng là Tổng trì hay nắm giữ hết thảy thiện pháp.

Như lai tạng là pháp giới tạng, vì sao? Vì hết thảy pháp giới chúng sinh không ra ngoài Như lai tạng. Như lai tạng là pháp giới chân thật nguyên sơ của hết thảy chúng sinh. Ở nơi nhất chơn pháp giới này, Phật và chúng sinh đều bình đẳng cùng một bản thể giác ngộ. Ở nơi bản thể ấy, Phật và chúng sinh không hề đối ngại nhau. Phật có trong tâm chúng sinh, tâm giác ngộ của chúng sinh có trong tâm của Phật. Nên, Như lai tạng là pháp giới tạng.

Như lai tạng là pháp thân tạng, vì sao? Vì pháp thân tạng được ẩn chứa và thường trú ở trong Như lai tạng.

Như lai tạng là xuất thế tạng, vì sao? Vì thế gian là vô thường mà Như lai tạng là thường trú, nên Như lai tạng gọi là xuất thế tạng; vì thế gian là bị sinh diệt, Như lai tạng không bị sinh diệt, nên Như lai tạng gọi là xuất thế tạng; vì thế gian vốn bất an, mà Như lai tạng thì nghiễm nhiên bất động, nên gọi Như lai tạng là xuất thế tạng; mọi cái thấy của thế gian đều là điên đảo vọng tưởng, trí tuệ xuất sinh từ Như lai tạng thì không phải như thế, nên Như lai tạng là xuất thế tạng…

Như lai tạng là tự tính thanh tịnh tạng, vì sao? Vì tùy thuận theo tự tính thanh tịnh tự nội, nên không bị khách trần phiền não làm ô nhiễm. Nên, gọi Như lai tạng là tự tính thanh tịnh tạng.

Không có giáo nghĩa Như lai tạng, thì không có giáo nghĩa Đại thừa, không có giáo nghĩa Đại thừa, thì có giáo nghĩa Nhất thừa, không có giáo nghĩa Nhất thừa, thì không có giáo nghĩa hết thảy chúng sinh đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật. Không có Đại thừa, thì không có Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa. Nên, Tam thừa từ nơi Đại thừa mà thành lập.

Cho nên, phải biết rằng, giáo nghĩa Như lai tạng hết sức quan trọng ở trong Phật giáo, mặc dù có những bộ phái Phật giáo không hề hay biết về Như lai tạng và cũng có những bộ phái biết, nhưng không chấp nhận, phản bác. Dù giáo nghĩa Như lai tạng, bị một số bộ phái Phật giáo phản bác, nhưng không vì sự phản bác ấy của họ mà nó không hiện hữu. Nó hiện hữu ngay nơi tự tính của hết thảy chúng sinh và do vì chúng sinh không biết tự tính này mà vĩnh kiếp trầm luân trong sinh tử, hoặc không thể đạt đến sự Toàn giác.

Chính sự ra đời của đức Phật là khai thị tính này cho chúng sinh để giúp cho chúng sinh ngộ nhập. Biết tính này nơi hết thảy chúng sinh đều có và hết thảy chúng sinh đều có khả năng thành Phật, ấy chính là cái biết của Phật. Cái biết ấy hàng Thanh văn, Duyên giác hoàn toàn bất tri, ngay cả hàng Bồ tát quyền thừa cũng phải nương vào trí tuệ của Phật để tin mà dự phần, chứ không thể tự mình giác liễu. Vì vậy, Đại Trí Độ luận nói: “Phật Pháp mênh mông như biển cả, do tin mà được hội nhập”.

Giáo lý Như lai tạng, đã giúp cho chúng ta biết rằng, thế giới của chúng sinh khởi nguyên từ đâu? Và Như lai từ đâu mà xuất hiện. Ngài thực sự có Niết bàn hay không? Nếu có, thì Ngài đi về đâu sau khi Niết bàn. Và giáo nghĩa này cũng trả lời một cách sâu sắc và nghiêm túc những câu hỏi mà trước đó những học trò hay những giáo sĩ của các Tôn giáo đồng thời với Ngài thường thắc mắc, Như lai là thường hay vô thường? Ngài ở đâu sau khi Niết bàn?

Giáo nghĩa Như lai tạng đã giải mã những ý nghĩa sâu xa này, cho những ai thắc mắc về Như lai hiện hữu hay không hiện hữu, sau khi Ngài Niết bàn và ngay cả bản thân chúng ta sau khi chết đi về đâu? Giáo nghĩa Như lai tạng cũng đã giải thích một cách minh bạch thế giới này do đâu mà hình thành, nghĩa là từ Như lai tạng ở nơi tự tâm của hết thảy chúng sinh mà biểu hiện, nên mỗi chúng sinh phải chịu nhận lấy trách nhiệm về hành vi của chính mình, chứ không phải ai khác.
 
Như lai tạng với chín nghĩa ẩn dụ

Ở kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng, dùng chín ẩn dụ để dụ cho nghĩa Như lai tạng, gồm:

1. Liên hoa hốt nhiên nuy biến: “Hoa sen đang nở thơm bỗng nhiên khô héo, nhưng trong hoa sen ấy có vô số hóa Phật ngồi ngự với tư thế hoa sen, tướng hảo trang nghiêm, phóng đại ánh sáng, mọi người ai cũng nhìn thấy và không ai là không cung kính. Đức Phật dạy rằng, Ngài thấy trong các loại phiền não tham dục, sân nhuế, si mê của hết thảy chúng sinh có trí của Như lai, có mắt của Như lai, có thân của Như lai, ngự tọa với tư thế hoa sen, nghiễm nhiên bất động. Dù thân của hết thảy chúng sinh thú hướng trong phiền não, nhưng có Như lai tạng, thường không ô nhiễm, đầy đủ mọi đức tướng cùng với Như lai không khác…”.

Với ví dụ này là dụ trong mọi loại phiền não ở trong sinh tử của hết thảy chúng sinh đều có Như lai tạng thường thanh tịnh không bị ô nhiễm.

2. Như mật phòng huyền ư đại thọ hữu bách thiên phong già hộ kỳ mật: “Ví như tổ mật ong treo ở cây đại thọ, có trăm ngàn con ong ngăn giữ tổ ong mật ấy. Người muốn lấy mật phải biết sử dụng phương tiện khéo léo trục đuổi đàn ong ấy bay đi, mới có thể tùy nghi lấy dùng. Cũng vậy, Như lai tạng nơi hết thảy chúng sinh giống như tổ mật ong, bị trăm ngàn ức triệu phiền não, tùy phiền não bao bọc cất giữ, nên phải sử dụng cái thấy bằng trí tuệ của Phật để thấy biết chúng, sau đó mới thành bậc Chánh giác”.

Với ví dụ này, mật ong là dụ cho Như lai tạng. Đàn ong là dụ các căn bản phiền não và tùy phiền não. Cũng vậy, Như lại tạng của chúng sinh bị trăm ngàn phiền não bao bọc chung quanh. Người có trí muốn lấy mật thì phải biết cách trục xuất bầy ong bu quanh tổ mật ong. Cũng vậy, muốn thành tựu Như lai, thì phải có phương tiện trí tuệ của Phật, để trục xuất trăm ngàn ức triệu loại phiền não ra khỏi Như lai tạng, khiến cho Như lai thân hay pháp thân nghiễm nhiên độc lộ.

3. Đạo mạch túc đậu: “Hạt gạo được bọc ở trong vỏ trấu, nếu không loại bỏ vỏ trấu thì không thể sử dụng hạt gạo để nấu ăn. Đức Phật dạy, với Phật nhãn của bậc Chánh biến tri, Ngài thấy hết thảy chúng sinh đều có đầy đủ Như lai thể, nhưng vì bị lớp da phiền não bao bọc ở bên trong. Nếu có khả năng thấu hiểu và giác ngộ Như lai thể, thì liền thành bậc Chánh giác, có trí tuệ tự nhiên, an trú vững chãi. Đức Phật dạy, Như lai tạng có mặt ở trong tất cả phiền não. Như lai là do các loài chúng sinh kia biết loại trừ lớp da phiền não mà thanh tịnh thành Phật…”.

Với ví dụ này, hạt gạo là dụ cho Như lai tạng, chất ngọt của gạo là dụ cho Như lai thể nơi tâm tính của hết thảy chúng sinh. Vỏ trấu là dụ cho vô minh phiền não, mê lầm bao bọc Như lai tạng nơi tâm của hết thảy chúng sinh.

4. Xú uế chư ác tích tụ: “Hoặc như có người cặp thoi vàng ở một bên nách mà đi, bất chợt rớt xuống ở trong hầm xí. Mặc dù vàng bị nằm chìm ở trong xú uế và ở trong chỗ xú uế trải qua mười năm, hai mươi năm, năm mươi năm, cho đến trăm ngàn năm, thì bản thể của thoi vàng kia vẫn không hề bị biến hoại, không hề bị ô nhiễm, cũng không hề làm mất lợi ích cho con người…”.

Với ví dụ này, hầm xí là dụ cho các loại phiền não tham, sân, si, mạn thuộc Dục giới. Thoi vàng là dụ cho Như lai tạng. Cặp thoi vàng bên nách mà đi là dụ cho tà kiến. Vàng rơi xuống hầm xí là dụ cho không có chánh kiến, quên mất bản nguyện, quên mất Như lai tạng, rơi vào phước báo nhân thiên hay nhị thừa. Tuy, Như lai tạng rơi xuống bị nhấn chìm, ở chung trong phiền não xú uế của chúng sinh bị trôi lăn sinh tử trong Dục giới, hay bị quên mất hoặc không hề hay biết của hàng nhị thừa trải qua vô số kiếp vẫn không hề bị ô nhiễm, vẫn thanh tịnh. Nếu người biết tu tập nhớ lại bản nguyên, hội nhập được với Như lai tạng, thì thành bậc Chánh biến tri, lợi ích cho hết thảy chúng sinh không thể nghĩ bàn.

5. Như bần cùng trượng phu: “Như ở trong nhà dưới đất có đại phục tạng, dài ngang cao đến một câu-lô-xá (khoảng ba ngàn năm trăm thước Tàu). Trong đó đầy cả vàng, sâu xuống dưới với ước lượng lớn bảy thước, bị mặt đất che khuất. Kho vàng vĩ đại ấy, chưa từng nghe thấy ai nói. Người đàn ông ở trên kho báu vĩ đại ấy mà bần cùng, tâm ôm nỗi khổ nghèo, ngày đêm suy tư ưu buồn thảm não. Từ trước đến nay hoàn toàn không biết, không nghe, không thấy gì kho tàng châu báu vĩ đại ở trong đất kia. Cũng vậy, những chúng sinh ở trong ngôi nhà tác ý chấp thủ, nhưng vẫn có Như lai trí tuệ, vẫn có kho tàng chánh pháp của chư Phật, như mười trí lực, bốn vô sở úy. Nhưng, vì họ đắm vào và dính mắc sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà thọ khổ đó thôi. Nên, không thể nghe được kho tàng pháp bảo, lấy gì mà thâu hoạch! Nếu, họ tịch diệt năm dục, liền được thanh tịnh”.

Với ví dụ này, kho châu báu dưới đất là dụ cho Như lại tạng hay Như lai trí tuệ. Kho báu bị đất che khuất một Câu-lô-xá là dụ cho hàng Thanh văn thừa và Duyên giác thừa bị vô minh trú địa che khuất, khiến không hề nghe biết Như lai tạng hay Phật tính ở nơi chính mình và mình có khả năng thành Phật. Vì vậy mà nghèo. Nghèo là vì quên mất Như lai tạng hay Bồ đề tâm và bản nguyện Bồ đề phát lên từ tâm ấy.

6. Như đằng-tử, đa-la-tử: “Hạt mầm của quả Thiệm bộ và hạt mầm của quả Yêm-ma-la, do hạt mầm của chúng lần lượt hỗ trợ nhau sinh trưởng thành pháp bất hoại. Nếu gặp duyên của đất, gieo trồng chúng xuống, lâu ngày về sau trở thành Đại thọ vương. Với con mắt của Như lai nhìn thấy tham dục, sân hận, si mê, phiền não, vô minh cho đến ngằn mé xương da của hết thảy chúng sinh, trong kho tàng phiền não ấy có Như lai tạng tính. Vì vậy, gọi là hữu tính. Nếu các loại phiền não ấy ngưng lắng, gọi là thanh lương; là Niết bàn. Nếu có thể loại trừ vô minh, phiền não ở nơi thế giới hữu tình, thì gọi là tụ thể của đại trí. Các loài chúng sinh kia gọi là tích tụ đại trí…”.

Với ví dụ này, cho ta thấy trong kho tàng phiền não của chúng sinh có Như lai tạng tính. Chỉ cần nỗ lực tu tập làm cho vô minh phiền não lắng xuống, thì Như lai tạng tính hiện ra, Niết bàn hiện ra. Ví như Đại thọ vương lớn lên từ mầm mộng của quả Thiệm bộ và Yêm-ma-la giữa không gian khi gặp duyên gieo trồng xuống đất.

7. Thí như bần nhân: “Lấy các loại châu báu làm hình tượng dài như một khủy tay, người đàn ông nghèo muốn mang tượng Phật quý ấy đi qua con đường hiểm, sợ những kẻ đạo tặc cướp mất, nên dùng vải bọc kỹ lại, rồi làm cho dơ nháy bên ngoài, dùng giây quấn lại, khiến người ta không lường được. Người đàn ông nghèo ấy đang ở nơi đồng nội bỗng dưng chết mất. Tượng quý Như lai bọc trong miếng giẻ rách hôi nhớp, vứt lăn lóc trên đất nơi đồng nội, khách vãng lai trên đường đạp lui đá tới rồi bỏ đi, không biết trong miếng giẻ rách hôi ấy có tượng Như lai quý báu. Do mùi hôi thối bốc lên từ nơi miếng giẻ vứt bỏ ấy, người ta nhàm chán cái xú uế đó không nghĩ tưởng tới Phật.

Bấy giờ chư Thiên cư trú ở nơi Khoáng dã, dùng thiên nhãn để thấy, liền bảo hành khách đi đường rằng, này quý vị, ở trong miếng giẻ rách hôi ấy, có tượng Như lai quý báu bọc ở bên trong, hãy nhanh đến mở ra, để cho hết thảy thế gian đảnh lễ…”.

Với ví dụ này, miếng giẻ rách tanh hôi bọc bên ngoài tượng Như lai quý báu là ẩn dụ cho vô minh phiền não trong đời sống của chúng sinh, đang bọc kín Như lai thể, ở nơi tâm của hết thảy chúng sinh. Những loại kiến chấp của hàng Thanh văn thừa và Duyên giác thừa đang bọc kín Phật tính, Như lai tạng tính nơi bản tính của họ, khiến cho họ không thể nào nhận ra được Bồ đề tâm tính để phát khởi hạnh nguyện Đại thừa.

8. Cô độc nữ nhân: “Có người nữ cô độc, hình tướng thô ác, hôi hám, dung mạo xấu xí, mọi người ai thấy cũng nhàm chán sợ hãi. Người ấy sống ở trong ngôi nhà nghèo khổ hạ liệt, bỗng dưng thông giao, trong bụng mang thai của một vị Chuyển luân vương. Mặc dù mang thai như vậy, nhưng người nữ kia cũng không hề hay biết, tâm vẫn luôn nghĩ rằng, mình là người nữ xấu xí, bần khổ… Cũng vậy, hết thảy chúng sinh ký gửi vào trong ngôi nhà bần cùng tam giới, không có chủ quyền, không chỗ nương tựa, bị nỗi khổ sinh tử bức bách, ám hại, nhưng trong mỗi một chúng sinh đều có thế giới của Như lai và có đầy đủ Như lai tạng, nhưng vì vô minh, họ không biết, không thấy đó thôi…”.

Với ví dụ này, người nữ hạ liệt là dụ cho hạt giống ty mạn, mặc cảm thua kém nơi chúng sinh, khiến phiền não sinh ra trong đời sống của họ, nên bị vô minh phiền não làm cho trôi lăn trong sinh tử khổ đau, không có mong ngày thoát khỏi. Thai vị Chuyển luân vương là dụ cho Như lai tạng hay Phật tính nơi tâm phiền não của chúng sinh. Hoặc ẩn dụ cho hàng Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, do tăng thượng mạn, chưa thực sự chứng ngộ mà tưởng rằng đã chứng ngộ, chưa đạt đến cứu cánh Niết bàn mà tưởng rằng, mình đã đạt đến cứu cánh Niết bàn, nên không có tâm mong cầu Niết bàn tuyệt đối của Phật, vì vậy mà nghèo; hay vì quên mất bản nguyện Đại thừa mà nghèo hèn, như gã cùng tử có viên minh châu trong chéo áo mà không biết, nên nghèo; như người nữ xấu xí mang thai vị Chuyển luân vương mà không hề hay biết, cứ sống theo tâm ý mặc cảm thấp kém của mình, vì vậy mà khổ.

9. Dĩ lạp tác mô: “Dùng sáp làm khuôn đúc, tạo thành các hình tượng ngựa, voi, người nam, người nữ, lấy bùn bôi trét vào bên trong rồi đem nung lửa, luyện tiêu đúc thành chơn kim, đợi đến khi nguội, người đúc mới đem tượng về nhà, ngoài cái khuôn bị bùn đen bao phủ nhớp, hình trạng của cái khuôn thô nhớp, nhưng bên trong có chứa tượng vàng. Người thợ đúc tượng hay đệ tử của họ biết rằng, khuôn đúc hư, nhưng tượng đã được lớp bùn ở bên trong giữ sạch, nên chỉ trong chốc lác là tượng kim bảo liền thanh tịnh… Cũng vậy, hết thảy chúng sinh như khuôn đúc tượng vàng, ngoài khuôn bị che lấp bởi bùn phiền não, nhưng ở bên trong rỗng rang, có Phật pháp vô lậu tri bảo…”.

Với ví dụ này, pho tượng vàng ở trong khuôn đúc ẩn dụ cho Như lai tạng ở trong tâm của hết thảy chúng sinh. Khuôn đúc và những yếu tố để đúc thành tượng vàng là dụ cho những giai đoạn tu tập đoạn trừ các lậu hoặc của Bồ tát để đạt đến chân như. Khi các lậu hoặc đã được đoạn trừ đến chỗ thuần thục không còn tái hiện trở lại, hành giả sẽ chứng nhập Như lai tạng tính, bất sinh diệt của tự tâm thanh tịnh ngay nơi bụi bùn phiền não của chính mình. (Đại Phương Quảng Như Lai Tạng Kinh, tr 461- 464, Đại Chính 16).
 
Như lai tạng và Pháp thân

Như lai tạng với Pháp thân khác nhau và giống nhau như thế nào?

Pháp thân được bao bọc bởi Như lai tạng. Như lai tạng có nhiễm tịnh. Pháp thân thì hoàn toàn thanh tịnh. Như lai tạng có một phần sinh diệt và một phần không sinh diệt. Pháp thân thì hoàn toàn không sinh diệt.

Phần ô nhiễm ở nơi Như lai tạng là phần phiền não tạo thành bởi các loại vô minh duyên hành và vô minh trú địa, nên khiến chúng sinh luân chuyển trong sinh tử luân hồi, huân tập những nhận thức mê lầm lâu ngày, lâu kiếp tạo thành tập tính hay chủng tử, khiến chấp thủ năm thủ uẩn là ta, là của ta. Năm thủ uẩn vô thường mà vọng tưởng cho là thường; năm thủ uần là vô ngã mà vọng tưởng cho là ngã; các lạc thú do tâm chấp thủ năm uẩn đem lại là khổ mà vọng tưởng là vui; năm thủ uẩn tự tính của chúng vốn tịch diệt, rỗng lặng, mà tưởng là tương tác vận hành thực hữu, do những nhận thức sai lầm ấy, mà chúng sinh từ đời này qua kiếp khác, cứ chảy mãi, trôi lăn mãi trong đêm dài tăm tối của hai loại phân đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử.

Phân đoạn sinh tử (Vibhāga-cyuti) là sự sống chết có kỳ hạn. Nghĩa là hết chết đời này, rồi lại liên tục chết đời khác. Biến dịch sinh tử (Acintya-pariṇāma-cyuti), sống chết biến dịch liên tục không có kỳ hạn, ấy là sự sống chết, biến dịch của ý sinh thân (manomayakāya). Các loại vô minh, phiền não tạo thành hai loại sinh tử như vậy là phần nhiễm ô bọc ngoài Như lai tạng, như miếng giẻ rách tanh hôi bọc tượng Như lai trân quý; như người nữ hình thù xấu ác mang thai của vị Chuyển luân vương; như khuôn đúc tượng bám nhiều bụi bặm chứa bọc kim thân Như lai… Nên, trong kinh, Phu nhân Thắng Man bạch với đức Thế Tôn rằng: “Pháp thân của Như lai không lìa phiền não tạng, nên goi là Như lai tạng”.

Phần thanh tịnh của Như lai tạng là Pháp thân Như lai. Pháp thân ấy không sinh diệt, không nhiễm tịnh, lúc nào và ở đâu nó cũng “như”. Chính Pháp thân như vậy, cũng gọi là tự tính thanh tịnh; cũng gọi là Nhất thừa; cũng gọi là Niết bàn của Phật. Điều này, Phu nhân Thắng Man bạch với đức Thế Tôn rằng:“Do thành tựu Phật pháp không thể nghĩ bàn, vượt quá số cát sông Hằng, vốn không ly, không thoát, không dị biệt, gọi là Pháp thân Như lai”. (Chương Pháp thân, Thắng Man Sư Tử Hống… Đại Chính 12).

Pháp thân Như lai, chính là tự tính Niết bàn, có bốn đặc tính gồm: Thường ba-la-mật; Lạc ba-la-mật; Ngã ba-la-mật; Tịnh ba-la-mật.

Thường ba-la-mật là tự tính của pháp thân vốn hoàn hảo và tịch lặng, siêu việt mọi ý niệm nhị nguyên đối đãi giữa thường và vô thường, giữa sinh và diệt, giữa hữu vi và vô vi, giữa lai và khứ, giữa đồng nhất và dị biệt. Lạc ba-la-la-mật là tự tính của pháp thân vốn là hoàn hảo và tịch lặng, ấy là niềm vui Niết bàn tuyệt đối, siêu việt mọi ý niệm khổ vui, mê ngộ, ràng buộc hay giải thoát, sinh tử hay Niết bàn. Ngã ba-la-mật là tự tính của pháp thân, tự tính ấy vốn hoàn hảo và tịch lặng, siêu việt mọi ý niệm phân biệt hữu ngã, vô ngã, thường kiến hay đoạn kiến hay không phải là thường kiến, cũng không phải đoạn kiến và siêu việt mọi quan điểm cho rằng, ngã là biến khắp hay không biến khắp… Tịnh ba-la-mật là tự tính của pháp thân, tự tính ấy vốn hoàn hảo và tịch lặng, siêu việt mọi kiến chấp mê hay ngộ, phiền não hay bồ đề, giác hay bất giác, sinh tử hay Niết bàn, phàm hay thánh, Phật hay chúng sinh.

Ở trong Phật tính luận nói rằng: “Bồ tát do tu tập tâm đại bi, chuyển hóa và trị liệu tâm ưa sự tịch tĩnh, không quan tâm đến lợi ích cho hết thảy chúng sinh của hàng Bích-chi-phật, nên Bồ tát thành tựu đức tính thường ba-la-mật. Bồ tát tu tập do phá hư không tam-muội, chuyển hóa và trị liệu tâm sợ hãi sinh tử của hàng Thanh văn muốn chứng nhập Niết bàn nhanh chóng, vì vậy Bồ tát thành tựu Lạc ba-la-mật. Bồ tát tu tập trí bát-nhã vô phân biệt, đối trị và chuyển hóa tâm chấp ngã, vì vậy Bồ tát thành tựu Ngã ba-la-mật. Bồ tát do tu tập tín lạc Đại thừa, đối trị và chuyển hóa đối với chúng sinh thuộc chủng loại tà định chủng tính là những loại chúng sinh không bao giờ chấp nhận có Niết bàn, vì vậy, Bồ tát thành tựu Tịnh ba-la-mật. (Phật Tính Luận 2, tr 797a, Đại Chính 31).

Kinh Thắng Man nói, nhận ra được Pháp thân thường trú ở trong Như lại tạng nơi mỗi chúng sinh, đó gọi là chánh kiến. Ấy là cái thấy đích thực, chính xác và hiện thực. Chính cái thấy ấy, tự xác nhận nó là con đích thực của Phật, từ miệng Phật sinh, từ pháp hóa sinh, được dự vào pháp phần của Phật, như  Phu nhân Thắng Man đã tác bạch với đức Thế Tôn ở kinh Thắng Man và Tôn giả Xá-lợi-phất đã tác bạch với đức Thế Tôn ở kinh Pháp Hoa, sau khi quý vị đã thấy được Pháp thân hay Phật tính ở nơi Như lai tạng của chính mình, của mỗi chúng sinh và của chư Phật, đều đồng đẳng hoàn toàn không sai biệt, chỉ vì bị bọc bởi vỏ trứng vô minh nhiều đời mà chúng sinh và ngay cả hàng Thanh văn, Duyên giác không nhận ra Pháp thân vô sinh, bất diệt ở nơi Như lai tạng hay nơi tự tâm của chính mình đó thôi.
 
Như lai tạng với Tứ thánh đế

Tứ thánh đế, bài pháp đầu tiên đức Phật giảng cho năm anh em Kiều-trần-như tại vườn Nai làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống tư tưởng giáo lý Phật giáo, nên nó không đơn thuần thuộc về giáo lý Nguyên thủy hay Đại thừa, nó lại càng không phải giáo lý đơn thuần thuộc về hệ Thanh văn thừa mà là nền tảng cho cả tam thừa, gồm Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa. Pháp có sâu cạn, rộng hẹp, lớn nhỏ, là thế này hoặc thế kia, là do căn tính của người nghe pháp và khả năng thâu nhiếp phiền não của họ trong lúc nghe pháp để pháp trở thành họ, qua quá trình văn, tư, tu của họ, chứ pháp do đức Phật thuyết giảng thì lúc nào và đâu cũng bình đẳng vànhư; lúc nào và ở đâu cũng chỉ có một mùi vị là giải thoát.

Tứ thánh đế là giáo lý hiện thực, trình bày cái thấy sự thật về khổ đau của mọi chúng sinh, bao gồm cả bốn loài chúng sinh, những loài sinh ra từ thai, từ trứng, từ ẩm thấp, từ biến hóa và chúng bị luân chuyển trong ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới của thế giới hệ này và vô số thế giới hệ khác ở trong mười phương; trình bày cái thấy sự thật về nguyên nhân tập khởi của khổ, chính là các loại tham dục, các loại sân nhuế, các loại si mê, kiêu mạn và tà kiến; trình bày cái thấy sự thật về khổ diệt, nghĩa sự an lạc hay Niết bàn, sau khi hậu quả và nguyên nhân sinh khởi khổ đau hoàn toàn diệt tận; trình bày sự thật con đường diệt khổ, đó là Bát chính đạo và các chi phần trợ đạo ở Đạo đế.

Vì vậy, Tứ thánh đế vừa là giáo lý cơ bản và vừa là giáo lý bao quát hết thảy giáo lý của Phật giáo.

Kinh Đại Bát nhã nói: “Sau khi chứng đắc Vô thượng Bồ đề, đức Phật vì chúng sinh mà thuyết Tứ thánh đế… khai thị, phân biệt hết thảy thiện pháp trợ đạo, thảy đều nhập vào trong Tứ thánh đế”. (Bát nhã kinh, Đại Trí Độ Luận 94 trích, tr 719, Đại Chính 25).

Và ở kinh Đại Bát nhã, Tôn giả Tu-bồ-đề đã hỏi đức Phật về ý nghĩa tự tính bình đẳng của Tứ thánh đế: “Thế nào là Tứ thánh đế bình đẳng? Đức Phật dạy: Nếu khổ không tồn tại, thì nhận thức về khổ không tồn tại; nếu nguyên nhân tập khởi của khổ không tồn tại, thì nguyên nhân nhận thức về sự tập khởi của khổ cũng không tồn tại; nếu khổ diệt không tồn tại, thì nhận thức về khỏ diệt cũng không thể tồn tại; con đường diệt khổ không tồn tại, thì nhận thức về con đường diệt khổ cũng không thể tồn tại. Đó là Tứ thánh đế bình đẳng”.

Đối với Phật giáo Bộ phái, thì Tứ thánh đế nằm trong một trật tự hiện quán, lần lượt 16 tâm bao gồm cả tám nhẫn và tám trí, gọi là Tứ thánh đế hiện quán. (Câu Xá Luận 23, tr 121c, Đại Chính 29).

Hay tuần tự trong 16 hành tướng Tứ thánh đế hiện quán gồm: Khổ thánh đế có bốn hành tướng hiện quán: Vô thường, khổ, không, vô ngã.

Cái gì vô thường? Năm thủ uẩn là vô thường, vì tự nó không thể sinh ra mà đợi đủ các duyên mới khởi hiện. Cái gì do duyên khởi hiện, cái ấy vô thường. Năm uẩn do duyên khởi hiện, nên năm uẩn là vô thường; Cái gì khổ? Vì chấp thủ năm uẩn, nên khổ. Cái gì do tương tác mà sinh khởi, cái ấy vô thường, cái ấy bị sinh diệt tự bức hại, nuốt chững lẫn nhau. Như vậy, cái gì vô thường? Năm thủ uẩn là vô thường, do chấp thủ năm thủ uẩn là thường, là ngã và ngã sở hữu, nên khổ. Cái gì không có thực chất? Năm thủ uẩn do duyên khởi hiện, nên không có thực chất, chúng trống rỗng tự nội, nên gọi năm uẩn là rỗng không. Cái gì là vô ngã? Năm uẩn do tương tác giữa các uẩn mà sinh khởi, nên chúng không có thực thể tồn tại vĩnh hằng biệt lập với năm uẩn và từng uẩn.  Nên, năm uẩn là vô ngã.

Tập thánh đế có bốn hành tướng hiện quán: Nhân, tập, sinh, duyên. Nhân là hạt giống. Tác nhân của khổ đau là hạt giống vô minh, ái dục. Tập, tâm là nơi huân tập những phiền não tham, sân, si, mạn và là nơi biểu hiện những hạt giống này. Sinh, các loại phiền não căn bản này dựa vào các duyên mà sinh khởi liên tục. Duyên là các loại phiền não này dựa vào nhân duyên, sở duyên duyên, đẳng vô gián duyên và tăng thượng duyên, các duyên căn bản này hỗ trợ liên tục dẫn sinh ra quả khổ. Đó là quán chiếu bốn hành tướng của Tập thánh đế hiện tiền, diễn tiến ngay nơi từng sát na sinh diệt tương tục ở nơi tâm.

Diệt thánh đế có bốn hành tướng hiện quán: Diệt, tịnh, diệu, ly. Diệt là khổ diệt. Nghĩa là các chủng tử vận hành của Tập thánh đế ở nơi tâm hoàn toàn ngưng lắng, tịch diệt. Nên gọi là diệt, cũng gọi là Niết bàn. Tịnh, hành tướng của các loại phiền não thuộc về thấy biết sai lầm (kiến hoặc) đem lại hay do những tư duy sai lầm (tư duy) đem lại, hoàn toàn bị dập tắt và đoạn tận từ thô đến tế, tâm ở trạng thái rỗng lặng, tỉnh giác hoàn toàn. Nên gọi là tịnh. Diệu, tâm thể sáng trong, không còn bất cứ sự chướng ngại nào, do các phiền não thuộc sinh tử phân đoạn và biến dịch làm trở ngại, nên gọi là diệu. Ly là tâm giải thoát, hoàn toàn không bị trói buộc và sợ hãi bởi hai loại sinh tử phân đoạn và biến dịch.

Đạo thánh đế có bốn hành tướng hiện quán: Đạo, như, hành, xuất. Đạo là Bát chánh đạo và các trợ đạo. Như là chân như. Ở nơi này hay ở nơi kia, trước hay sau, lúc nào và ở đâu, đạo cũng thích ứng với chân như, nên gọi là như. Hành là đi tới, hướng tới chân như. Xuất là tâm vĩnh viễn thoát ra khỏi mọi buộc ràng của phiền não ở trong sinh tử. Ấy là hành giả tiếp cận Tứ thánh đế hiện quán bằng tiệm tiến và cuối cùng chứng nghiệm con đường thoát ly sinh tử hoàn toàn. (Tham khảo Câu Xá Luận 26, Đại Chính 29, Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh, Đại Chính 17; Tọa Thiền Tam Muội Kinh, Đại Chính 15; Đại Tỳ Bà Sa 79, Đại Chính 27).

Ấy là Tứ thánh đế tuần tự trong hiện quán của Phật giáo bộ phái, mà cụ thể là Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivada), nhưng ở kinh Thắng Man cho rằng, Tự tính bình đẳng của Tứ thánh đế không có bốn duyên tiệm chí và bốn trí, nghĩa là khi nhận ra được sự thật bản chất của khổ, thì đồng thời cũng nhận ra được ngay bản chất của ba sự thật còn lại. Đó chính là tự tính thanh tịnh bình đẳng của Tứ thánh đế. Như Phu nhân Thắng Man bạch với đức Phật rằng: “Nói là Thánh đế, đó không phải là Thánh đế của Thanh văn, Duyên giác và cũng không phải công đức của Thanh văn và Duyên giác. Bạch Thế Tôn, Thánh đế ấy tối sơ được giác tri bởi Như lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, sau đó vì chúng sinh bị bọc trong vỏ trứng vô minh mà được Thế Tôn khai thị diễn thuyết, nên gọi là Thánh đế”(Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa, Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh, tr 221b, Đại Chính 12).

Như vậy, nghĩa chân thật của Tứ thánh đế hiện ra sâu cạn, rộng hẹp như thế nào, hoàn hảo hay không hoàn hảo là do khả năng và điều kiện công đức tu tập của người nghe pháp mà lãnh hội, chứ nghĩa lý chân thật của Tứ thánh đế không phải dừng lại ở nơi khả năng và trình độ của người nghe và người cảm nhận ấy, mà nghĩa lý chân thật của Thánh đế là vô biên, không phải là hữu hạn. Nên, Tứ thánh đế mà hàng Thanh văn, Duyên giác lãnh hội tu tập có một phần công đức, đó là Tứ thánh đế hữu tác, hữu biên, chứ không phải Tứ thánh đế vô tác, vô biên. Tứ thánh đế mà hàng Thanh văn, Duyên giác lãnh hội từ đức Phật mà tu tập có được một phần công đức là hữu lượng, có thể đo lường, có thể nghĩ bàn, chứ không phải Tứ thánh đế vô lượng, nghĩa là Tứ thánh đế không thể nghĩ bàn, không thể đo lường. (Vô Biên Thánh Đế – Thắng Man Sư Tử Hống… Đại Chính 12, tr 221a,b).

Ở kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Văn Thù đã nói ý nghĩa Tứ thánh đế với đại chúng Bồ tát với nhiều góc nhìn của nhiều trình độ và nhiều không gian hay vô số trình độ và vô số không gian khác nhau như sau:

Khổ Tập thánh đế trong cõi Ta bà này là trói buộc, biến hoại, ái trước, vọng niệm, xu nhập, quyết định, võng lưới, tùy hành, hí luận, nó là cội gốc của điên đảo.

Khổ Diệt thánh đế trong cõi Ta bà này là vô tránh, ly trần, tịch tịnh, vô tướng, không đắm chìm, không có tự tính, không có chướng ngại, diệt tận, tự thể chân thật, an trú tự tính.

Khổ Diệt Đạo thánh đế trong cõi Ta bà này là nhất thừa, hướng tới vắng lặng, dẫn đường, tuyệt đối không phân biệt, bình đẳng, buông bỏ sợ hãi, không chỗ xu hướng, tùy thánh ý, đường bậc tiên nhân đi, mười kho tàng.

Nơi cõi Ta bà này, nói về Tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, theo tâm ý của chúng sinh, khiến họ được điều phục”.

Ngài Văn Thù lại nói tiếp, ý nghĩa của Tứ thánh đế ở nơi thế giới Mật Huấn như sau:

Khổ Tập thánh đế nơi thế giới Mật huấn, gọi là thuận sinh tử, nhiễm trước, đốt cháy, lưu chuyển, gốc rễ bại hoại, đầu mối của hữu lậu, ác hạnh, ái trước, nguồn gốc bệnh hoạn, phân định số lượng.

Khổ Diệt thánh đế nơi thế giới Mật huấn, gọi là đệ nhất nghĩa, xuất ly, tán thán, yên ổn, nơi thiện pháp xu hướng hội nhập, điều phục, phần thứ nhất, không tội lỗi, ly tham, quyết định.

Khổ Diệt Đạo thánh đế ở nơi thế giới Mật huấn, gọi là tướng sĩ hùng mạnh, thượng hạnh, siêu xuất, hữu phương tiện, mắt bình đẳng, vượt khỏi biên giới, liễu ngộ, thâu nhiếp nắm giữ, con mắt tối thắng, quán chiếu mọi phương.

Nói về Tứ thánh đế ở nơi thế giới Mật huấn có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy theo tâm ý của chúng sinh để họ được điều phục”.

Ngài Văn Thù nói ý nghĩa Tứ thánh đế ở nơi thế giới Tối thắng như sau:

Khổ Tập thánh đế nơi thế giới Tối thắng, gọi là bại hoại, căn bản si mê, đại oan nghiệp, dao bén, dứt mùi vị, ôm ấp thù hận, chẳng phải vật của mình, dẫn vào đường xấu ác, đen tối tăng lên, điều lành hư hoại.

Khổ Diệt thánh đế nơi thế giới Tối thắng, gọi là đại nghĩa, nhiêu ích, nghĩa trung nghĩa, vô lượng, chỗ phải thấy, xa lìa phân biệt, tối thượng điều phục, thường bình đẳng, khả đồng trú, vô vị.

Khổ Diệt Đạo thánh đế nơi thế giới Tối thắng, gọi là có thể đốt cháy, phẩm chất tối thượng, quyết định, không thể phá hoại, phương tiện sâu xa, xuất ly, không còn hạ liệt, thông đạt, tính giải thoát, có khả năng độ thoát.

Nơi thế giới Tối thắng, nói về Tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng sinh khiến họ điều phục”.

Ngài Văn Thù còn nói cho thính chúng Bồ tát biết về Tứ thánh đế ở nơi các thế giới của Ly cấu, Phong dật, Nhiếp thủ, Nhiêu ích, Tiển thiểu, Hoan hỷ, Quan thược, Chấn âm cho đại chúng biết. Ngài Văn Thù nói: “Như cõi Ta bà này nói Tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu. Cũng vậy, mười phương tất cả vô lượng, vô biên thế giới không thể nói hết, tận pháp giới, hư không giới, trong mỗi thế giới, nói Tứ thánh đế đều có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, tùy tâm ý của chúng sinh, khiến họ được điều phục”. (Hoa Nghiêm 80, q 12, Đại Chính 10).

Như vậy, Tứ thánh đế không phải chỉ có một nghĩa mà vô lượng lượng nghĩa và vô lượng ý nghĩa của người nghe và tùy theo không gian của chúng sinh đang tiếp nhận và thao tác, nhưng vô lượng nghĩa không ra Một nghĩa là đệ nhất nghĩa, Pháp thân, Tự tính thanh tịnh, Như lai tạng tính, Phật tính, Niết bàn hay Diệt đế. Nhưng, Tứ thánh đế dù với bất cứ ý nghĩa nào, nhưng quá trình do Như lai giảng giải mà các Thánh giả Thanh văn liễu tri, khởi tâm quán chiếu biết sự thật của khổ, đoạn trừ tập khởi phiền não nơi tâm, chứng diệt đế bằng tu đạo, thì kinh Thắng Man cho rằng, đó là Tứ thánh đế hữu tác mà không phải là vô biên.

Tứ thánh đế vô biên là Tứ thánh đế không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, Tứ thánh đế ấy mang tính phổ quát và như như. Dù Phật có ra đời chứng ngộ và tuyên thuyết hay không chứng ngộ và tuyên thuyết gì cả, thì nó vẫn hiện hữu như chính nó hiện hữu là như và như như.

Ở kinh Đại Bát Niết Bàn cho rằng, Như lai tạng hay Phật tính là thường trú, Tam bảo thiết lập trên nền tảng Như lai tạng hay Phật tính, nên Tam bảo cũng thường trú và Tứ thánh đế từ Như lai tạng hay Phật tính mà đức Phật nói ra cũng là thường trú, không biến đổi.

Tính của Đại Bát Niết Bàn là Thường-Lạc-Ngã-Tĩnh. Phật tính thường trú, nên gọi là thường. Phật tính là thường lạc mà không khổ, nên gọi là Lạc. Phật tính là châu biến cùng khắp, không có chúng sinh nào là không có Phật tính, nên Phật tính gọi là ngã. Phật tính thì không còn phiền não, thường trú ở trong sự tĩnh lặng, nên gọi là tĩnh. Giáo pháp được Phật trình bày ở kinh Đại Bát Niết Bàn, với một tuệ giác ở tầm cao và tầm sâu, nên Tứ thánh đế, đức Phật nói cho Tôn giả Đại-ca-diếp cũng phản ảnh đúng tầm cao và tầm sâu như vậy:

Khổ thánh đế: “Đức Phật dạy Tôn giả Ca-diếp rằng, bảo là khổ, nhưng không phải là Khổ thánh đế, vì sao? Vì nếu bảo rằng, khổ là Khổ thánh đế, thì tất cả chúng sinh ở nơi địa ngục và súc sinh đều có Khổ thánh đế? Nếu lại có người không biết cảnh giới thậm thâm của Như lai là pháp thân thâm mật, thường trú không biến đổi mà cho là thân do ăn, chứ không phải pháp thân và họ không biết đạo đức uy lực của Như lai, nên gọi là khổ. Vì sao? Vì do không biết, vì kiến chấp, nên cho rằng, pháp không phải là pháp thân, nên biết rằng, người kiến chấp ấy, sẽ đọa vào sinh thú xấu ác, luân chuyển ở trong sinh tử, các phiền não trói buộc tăng trưởng, thọ nhiều khổ não. Nếu có người biết Như lai là tính thường trú không có biến đổi; hoặc đối với người ấy, hai chữ âm thanh thường trú đi qua thính giác của họ chỉ một lần, họ liền sinh lên cõi trời, đời sau mới có thể chứng biết Như lai là thường trú, không biến đổi. Người ấy sau khi đã chứng biết rồi, mới nói rằng, Ta từ xưa đã từng nghe ý nghĩa Như lai là thường trú, không biến đổi này, ngày nay được giải thoát mới chứng biết. Ta vốn ở nơi bản tế mà vì không biết, nên bị luân lưu sinh tử, luân hồi không có giới hạn. Ngày nay ta mới đạt được trí tuệ chân thực, nếu người nào biết đúng như vậy, biết tu tập khổ đế chân thực như vậy, chỗ lợi ích của họ đạt được rất nhiều. Nếu người nào tu tập mà không biết điều này, cho dù họ siêng năng tu tập đến mấy, cũng không có lợi ích. Do họ biết rõ về khổ như vậy, nên gọi là Khổ thánh đế. Nhưng, những người nào tu tập chỉ thấy khổ mà không thấy chân lý của khổ, thì người ấy không thấy Khổ thánh đế”.

Khổ Tập thánh đế: “Do không có trí tuệ chân thực xuất sinh từ pháp chân thực, nên tiếp nhận và làm nô lệ cho vật không thanh tịnh, khiến phi pháp nói là chánh pháp, làm cho chánh pháp bị ẩn mất, không biểu hiện thường trú lâu dài. Do nhân duyên không biết pháp-tính và vì không biết pháp-tính, nên luân hồi sinh tử, chịu nhiều khổ đau, không thể sinh thiên, không được chánh giải thoát. Nếu có người nào biết sâu xa, chánh pháp không thể biến hoại. Do nhân duyên này mà được sinh thiên và được chánh giải thoát. Nếu có người nào không biết xứ của Khổ tập đế, mà cho rằng,chánh pháp hủy diệt không có thường trú. Vì do nhân duyên ấy mà vô lượng kiếp lưu chuyển sinh tử thọ các khổ não. Nếu ai có thể biết chánh pháp thường trú, không biến đổi, gọi là biết Tập ở nơi Tập thánh đế. Nếu có người nào không thể tu tập như vậy, thì gọi là Tập, nhưng không phải là Tập thánh đế”.

Khổ Diệt thánh đế: “Nếu có người tu tập, học hỏi nhiều về pháp-không là không tốt. Vì sao? Vì diệt mất hết thảy pháp; vì làm cho kho tàng pháp chân thực của Như lai biến hoại. Người nào tu như vậy, gọi là tu pháp-không. Người tu tập Khổ Diệt là người tu tập ngược lại với tất cả pháp tu của ngoại đạo. Nếu có ai bảo rằng, tu tập pháp-không là tu tập Diệt đế, thế thì hết thảy ngoại đạo cũng đều có tu tập pháp-không, thì tất cả họ đều nên có Diệt đế? Nếu có người nào cho rằng, có Như lai tạng, tuy không thể thấy, nhưng có khả năng diệt trừ hết thảy phiền não, khi ấy mới có thể chứng nhập. Nếu người phát tâm tu tập này trong một niệm nhân duyên như vậy, thì người ấy có thể tự tại đối với hết thảy pháp. Nếu có người bảo rằng, tu tập Như lai mật tạng nơi tịch lặng, vô ngã, thì người ấy ở trong vô lượng đời vẫn lưu chuyển thọ khổ ở trong sinh tử. Nếu có người không tu tập pháp-không như vậy, tuy có phiền não, họ cũng nhanh chóng diệt trừ, vì sao? Vì do người này biết có kho tàng bí mật của Như lai, nên gọi là tu tập Khổ Diệt thánh đế. Nếu người nào có thể tu tập như vậy là đệ tử của ta. Nếu người nào tu tập pháp-không mà không có khả năng tu tập như vậy, thì người ấy không phải tu tập Khổ Diệt thánh đế”.

Đạo thánh đế: “Đạo thánh đế chính là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo và Chánh giải thoát”.Có những hạng chúng sinh do tâm điên đảo cho rằng, không có Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo và Chánh giải thoát; sinh tử lưu chuyển còn như huyễn, như hóa. Do họ tu tập theo nhân duyên kiến chấp ấy, nên luân chuyển ba cõi, chịu đại khổ đau lâu dài. Nếu người nào có thể phát tâm tu tập thấy Như lai thường trú, không biến đổi, Pháp, Tăng và chánh giải thoát cũng như vậy. Nhờ vào phát tâm tu tập như vậy, chỉ do ở trong một niệm này mà vô lượng đời kiếp được quả báo tốt đẹp tự tại tùy ý. Vì sao? Vì ta đã từng trong quá khứ, do bốn loại điên đảo, không phải pháp mà chấp thủ là pháp, nên đã nhận lấy vô lượng quả báo từ ác nghiệp. Ta nay những kiến chấp như vậy đã diệt trừ, nên thành bậc Giác ngộ Vô thượng, gọi là Đạo thánh đế. Nếu có người cho rằng, Tam bảo là vô thường, tu tập theo kiến chấp này là tu tập hư dối, không phải là Đạo thánh đế. Nếu ai tu tập theo pháp thường trú là đệ tử của ta. Ấy là người tu tập Tứ thánh đế bằng chánh kiến, nên gọi là Tứ thánh đế”. (Đại Bát Niết Bàn Kinh 7, tr 647, Đại Chính 12).

Ngài Cát tạng (549-623) ở trong Thắng Man Kinh Bảo Quật cho rằng, Tứ thánh đế do nghe Phật dạy mà ngộ và khởi công tu tập đó là Tứ thánh đế hữu tác. Tứ thánh đế qua góc nhìn của Đại thừa là Tứ thánh đế vô tác, vì tự thể của nó vốn thanh tịnh. Tứ thánh đế do Phật chứng ngộ là Tứ thánh đế vô tác. Còn Tứ thánh đế do Phật tuyên thuyết cho hàng Thanh văn là Tứ thánh đế hữu tác.

Trí khải đại sư (538-597), của Thiên Thai tông Trung quốc dựa vào góc nhìn Tứ thánh đế của kinh Thắng Man và Đại bát Niết bàn mà phân Tứ thánh đế có bốn loại phối hợp với tứ giáo gồm, Tạng, Thông, Biệt, Viên như sau:

– Sinh diệt tứ đế: Tứ thánh đế được đức Phật trình bày ở trong Tạng giáo, ấy là giáo lý A-hàm. Tứ thánh đế, đức Phật trình bày ở trong văn hệ này dựa vào pháp hữu vi, nhân duyên, nhân quả mà trình bày cho thính chúng thấy để tu tập, nên gọi là Sinh diệt tứ đế.

– Vô sinh tứ đế: Tứ thánh đế được đức Phật trình bày ở Thông giáo. Ấy là giáo lý bao gồm cả kinh điển A-hàm và Đại thừa. Tứ thánh đế đức Phật trình bày ở trong văn hệ này là dựa vào lý tính-không ở nơi các pháp nhân duyên. Nghĩa là hiện tượng của các pháp nhân duyên có sinh diệt, nhưng bản thể, hay tự tính của các pháp nhân duyên là tính-không, vô vi, vô tác, không sinh diệt. Tứ thánh đế được đức Phật trình bày trong văn hệ này gọi là Tứ thánh đế vô sinh diệt.

– Vô lượng tứ đế: Tứ thánh đế, đức Phật trình bày ở trong Biệt giáo, ấy là giáo lý thuộc văn hệ kinh điển thuần Đại thừa. Giáo lý này, dựa vào hiện tượng nhân duyên sai biệt của chúng sinh ở trong ba cõi và ngoài ba cõi có vô lượng sai biệt, nên Tứ thánh đế được đức Phật trình bày ở trong văn hệ này, cũng có vô lượng nghĩa và vô lượng hành tướng sai biệt, nên gọi là vô lượng Tứ thánh đế.

– Vô tác tứ đế: Tứ thánh đế, đức Phật trình bày ở trong Viên giáo, ấy là giáo lý thuộc kinh điển Đại thừa Viên giáo. Giáo lý này dựa vào lý thể, tính thể, Phật tính, pháp tính, như lai tạng tính, tự tính thanh tịnh…nơi hết thảy chúng sinh đều bình đẳng, không sinh diệt, như như bất động, nên gọi là vô tác Tứ thánh đế.

Đây là sự phối hợp Tứ thánh đế với Tứ giáo của ngài Trí Khải, Tổ sư của Tông Thiên Thai Phật giáo Trung quốc vào thế kỷ thứ sáu, và nó đã có một ảnh hưởng nhất định trong nền học thuật của Phật giáo Trung quốc, Nhật Bản, Hàn quốc và Việt Nam.

Vô tác Tứ thánh đế, mới là điểm nhấn mà kinh Thắng Man, cũng như các kinh điển Đại thừa đề cao, vì đó là Tứ thánh đế như thực, chỉ có Như lai mới biến tri, mới biết rõ cùng tột, mà không phải là Thánh đế của hàng Thanh văn, Duyên giác và lại cũng không phải là công đức của hàng Thanh văn, Duyên giác. Vì vậy, Phu nhân Thắng Man bạch đức Thế Tôn rằng: “Thánh đế như vậy, tối sơ được giác tri bởi Như lai, ứng cúng, chánh biến tri, sau đó vì chúng sinh bị bọc trong vỏ trứng vô minh mà Thế Tôn khai thị, diễn thuyết, nên gọi là Thánh đế”.

Như vậy, Tứ thánh đế được Như lai chứng ngộ và giác tri cùng tột là từ Như lai tạng và cũng từ Như lai tạng mà đức Phật khai diễn Tứ thánh đế tùy tâm ý của chúng sinh để điều phục. Nên, Sinh diệt Tứ đế và Vô lượng Tứ đế là Tứ thánh đế mà đức Phật tùy duyên để khai ngộ cho chúng sinh ở trong tam thừa và Vô sinh diệt Tứ thánh đế, Vô tác Tứ thánh đế là bất biến ngay ở nơi tùy duyên ấy. Vô sinh diệt Tứ thánh đế và Vô tác Tứ thánh đế là tự tính thanh tịnh của Như lai tạng, nên lúc nào và ở đâu nó cũng như. Sinh diệt Tứ thánh đế và Vô lượng Tứ thánh đế là đức Phật vận dụng phương tiện thuyết pháp cho chúng sinh bằng tất cả tâm từ bi, để qua Sinh diệt Tứ thánh đế và Vô lượng Tứ thánh đế, khiến chúng sinh điều phục tâm ý, buông bỏ vô lượng phiền não mà trở về Vô sinh diệt Tứ thánh đế hay Vô tác Tứ thánh đế, nhập vào Như lai tạng tính tức là thể tính thanh tịnh của Như lai. Thể tính ấy là Như. Thể tính ấy lúc nào và ở đâu nó cũng sáng ngời, như như và bất động.
 
Con đường tu tập và chuyển hóa

Con đường tu tập theo định hướng Nhất thừa đó là con đường tu tập của Như lai tạng. Với con đường này kinh Thắng Man chỉ ra cho ta bốn tiến trình của hành động.

1- Quy y: Quy y là quy kính và quay về nương tựa Tam bảo. Tam bảo thường trú ở ngay trong thế gian sinh diệt và thường trú ngay ở nơi tâm sinh diệt của hết thảy chúng sinh.

Quy y như vậy, là nền tảng cho sự nương tựa để quay về với tính giác, buông bỏ vô minh, phiền não, khiến Phật tính hay Như lai tạng tính hiển lộ ra. Quy y như vậy, do ngưỡng mộ mà quy y, do tin tưởng mà quy y hay do chứng kiến sắc thân kỳ diệu, bất khả tư nghì của Phật mà phát tâm quy y, hay do phát hiện ra pháp thân chứng ngộ của Phật là thường trú mà phát tâm quy y, và quy y bằng tất cả sự tín tâm khát ngưỡng và chân thành. Quy y như vậy là do thấy rõ Phật tính hay Như lai tạng tính mà quy y, và quy y như vậy là từ bỏ sự nhiễm ô mà quay trở lại sống với sự thanh tịnh của Phật tính hay Như lai tạng tính và đứng vào hàng ngũ của Phật. Ấy là quy y một cách rốt ráo, tuyệt bực, nên gọi là quy y Nhất thừa.

2- Phát Bồ đề tâm: Bồ đề tâm là Như lai tạng tâm. Tâm ấy là tâm của Phật. Tâm ấy vốn có nơi hết thảy chúng sinh, nhưng chúng sinh vì do vô minh nhiều đời huân tập, che khuất khiến chúng sinh không hề hay biết, không hề nhận ra. Nay, nhờ duyên thiện hữu tri thức hướng dẫn, dìu dắt bằng vô số phương tiện thiện xảo, mà phát hiện ra được tâm ấy vốn có ở nơi chính mình, vốn bị vùi lấp trong hằng sa cát bụi vô minh, phiền não và trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Nay nhờ thiện hữu tri thức hướng dẫn mà phát giác ra tâm ấy, ngay nơi tâm mình, ngay nơi thân năm uẩn này. Sau khi phát giác được bồ đề tâm, thì nỗ lực phát huy tâm ấy, bằng cách chặt đứt các dây phiền não trói buộc tâm ấy, để bồ tâm càng lúc càng được phát giác ra từ thiểu phần giác đến bán phần giác, đa phần giác và đến chỗ toàn giác hay Vô thượng giác. Và nỗ lực đoạn trừ các phiền não được nuôi dưỡng và chế tác từ vô minh trú địa, khiến tâm bồ đề bị che phủ bởi những loại vô minh ấy, càng lúc càng phát sáng ra từ một điểm đến vô lượng, từ nhất thể đến toàn thể mà không còn bất cứ mọt vật thể gì có thể đối ngại.

Sau khi quy y và phát khởi tâm bồ đề như vậy, thì giới thể Đại thừa từ nơi Bồ đề tâm giới liền thành tựu, có khả năng phòng hộ, khiến dứt trừ hết thảy điều ác, thực hành hết thảy điều lành và thúc đẩy làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh với hạnh nguyện Bồ tát không có mỏi mệt.

3- Thệ Nguyện: Bồ đề tâm đã được phát giác nằm ngay ở trong vỏ trứng vô minh phiền não của tự tâm và ở nơi tâm của hết thảy chúng sinh, phát hiện bồ đề tâm là sử dụng mọi phương tiện có thể làm cho vỏ trứng vô minh vỡ ra, để cho bồ đề tâm hay Như lai tạng càng lúc càng hiện rõ ra và càng lúc càng tỏa sáng ra để kết thành ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của một bậc đại nhân phát nguyện và phát thệ. Nguyện là ôm ấp những tốt đẹp ở trong lòng và đủ duyên thì sự ôm ấp tốt đẹp ấy phát ra thành lời trước một bậc thầy Tôn kính, hay trước Tam bảo mong được ấn chứng cho lời nguyện thề ấy.

Phu nhân Thắng Man đã phát ba thệ nguyện ấy trước đức Thế Tôn và đã được Ngài ấn chứng.

Thệ nguyện thứ nhất: “Bằng nguyện lực chân thật này, con nguyện đem lại yên ổn cho vô lượng, vô biên chúng sinh. Do thiện căn ấy, vô lượng đời, con đều có được trí tuệ của chánh pháp”.

Thệ nguyện thứ hai: “Sau khi có chánh pháp trí, con sẽ giảng dạy cho hết hảy chúng sinh với tâm không biết mỏi mệt”.

Thệ nguyên thứ ba: “Đối với nhiếp thụ chánh pháp, con nguyện xả bỏ thân mạng và tài sản để hộ trì Chánh pháp”.

Bấy giờ, đức Thế Tôn ấn chứng cho ba đại nguyện của Phu nhân Thắng Man và có lời tán dương rằng:

4- Hạnh: Hạnh là thực hành. Nghĩa là biến thệ nguyện thành hành động thực tiễn, qua chánh tinh tấn, đẩy lùi và chuyển hóa mọi hạt giống biếng nhác phóng dật ở nơi tâm qua giới hành. Mười đại thọ ở kinh Thắng Man được xem như là giới hành để nuôi lớn và phát triển Bồ đề tâm đến chỗ cùng tột là Nhất thừa, khiến Như lai tạng tính biểu hiện và độc lộ sự toàn hảo tuyệt đích của nó giữa đám bùn lầy vô minh sinh tử. Nếu Như lai tạng không được phát giác, phát hiện và phát huy ngay ở nơi đám bùn lầy vẩn đục của sinh tử, bằng tất cả tâm nguyện và giới hành, thì Nhất thừa không do đâu mà đạt đến.

Vì vậy, mười đại thọ ở kinh Thắng Man được xem là giới hành của Bồ tát đạo, khiến lý tưởng Nhất thừa không còn huyền đàm hư ảo, mà thực tiễn trong hành động của cuộc sống, bằng tất cả tình thương yêu chân thật.

Mười giới hành ấy, Phu nhân Thắng Man đã nguyện thực hành sau khi đã được đức Thế Tôn thọ ký.

1- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, con nguyện không bao giờ khởi tâm vi phạm giới đã được lãnh thọ”.

2- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ đề, đối với các bậc Tôn trưởng, con không bao giờ khởi tâm kiêu mạn”.

3- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ đề, đối với chúng sinh, con nguyện không bao giờ khởi tâm sân hận”.

4- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, đối với sắc thân và vật dụng trang điểm ở bên ngoài của người khác, con nguyện không sinh tâm ganh tỵ”.

5- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, đối với nội pháp, ngoại pháp con không khởi tâm keo kiết”.

6- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, con sẽ không vì bản thân mà thọ dụng và cất giữ tài vật. Nếu có thọ nhận cái gì là vì để thành thục những chúng sinh nghèo khổ”.

7- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, con sẽ không vì bản thân mình mà thực hành bốn nhiếp pháp mà vì hết thảy chúng sinh, với tâm không ái nhiễm, tâm không mệt mỏi, tâm không quái ngại mà luôn luôn nhiếp thọ chúng sinh”.

8- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, nếu gặp những chúng sinh cô độc, bị giam cầm trong ngục tối, tật bệnh, đủ thứ ách nạn, khốn khổ dù chỉ chốc lát con cũng không bao giờ rời bỏ họ mà nguyện sao cho họ được yên ổn, bằng những hành động thiết thực, khiến họ thoát khỏi mọi thống khổ, sau đó mới rời bỏ họ”.

9- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến ngày thành tựu Bồ đề, nếu gặp trường hợp những chúng sinh thệ nguyện sống bằng nghề nghiệp ác, như săn bắn, chăn nuôi và các sự phạm giới, con sẽ không bao giờ bỏ qua. Khi nào có đủ năng lực, gặp những chúng sinh như vậy, ở nơi những chỗ này hay nơi những chỗ kia, đối với những hạng nào cần chiết phục là con sẽ chiết phục; đối với những hạng nào cần nhiếp thọ, con sẽ nhiếp thọ. Vì sao vậy? Vì do sự chiết phục và nhiếp thọ mà Chánh pháp trường tồn. Do Chánh pháp trường tồn mà chư thiên, nhân loại sung mãn, các ác đạo giảm thiểu, có thể tùy theo bánh xe Chánh pháp mà Như lai đã chuyển vận. Vì do thấy những lợi ích như vậy, nên con không bao giờ từ bỏ sự nhiếp thọ”.

10- “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến lúc thành tựu Bồ đề, con sẽ không bao giờ quên mất nhiếp thọ Chánh pháp, vì sao? Vì quên mất nhiếp thọ Chánh pháp là quên mất Đại thừa; quên mất Đại thừa là quên mất Ba-la-mật. Quên mất Ba-la-mật là quên mất ước nguyện Đại thừa. Nếu Bồ tát không quyết định Đại thừa, sẽ không có khả năng nhiếp thọ chánh pháp, chứng nhập niềm vui tùy sở thích, vĩnh viễn không đủ khả năng siêu việt địa vị phàm phu. Bởi vì con thấy có vô lượng sai lầm to lớn như thế và lại cũng thấy vô lượng phước lợi của Đại bồ tát, nhiếp thọ Chánh pháp trong đời vị lai, nên nguyện nhận lãnh mười Đại thọ này”. (Thắng Man… tr217b, Đại Chính 12).

Đây là mười giới hành hay mười đại thọ mà Phu nhân Thắng Man do thấy được phẩm tính siêu việt của Phật hay Như lai tạng tính mà phát nguyện quy y và nỗ lực hành trì và đã được Phật ấn chứng. Qua sự hành trì như thế, Phu nhân Thắng Man nuôi lớn hạnh Bồ đề, nguyện Bồ đề của mình và quay về được với hải đảo tự thân là Như lai tạng thể hay tự tính thanh tịnh ở nơi tự tâm của chính mình.

Mười giới hành hay mười đại thọ này phối hợp với tam tụ tịnh giới của Đại thừa Bồ tát giới, các vị sớ giải cũng có những cách phối hợp khác nhau.

Ngài Tuệ viễn (523-592), phân chia mười đại thọ của Phu nhân Thắng Man thành hai loại. Loại một, gồm chín đại thọ đầu là thuộc “thọ thế giáo giới”. Loại hai, Đại thọ thứ mười là thuộc về “thọ chánh pháp giới”. Thọ thế giáo giới là lãnh thọ giới pháp để thực hiện hạnh nguyện giáo hóa thế gian. Thọ chánh pháp giới là để thực hành chứng nghiệm chân lý.

Cũng theo ngài Tuệ viễn, đại thọ thứ nhất trong chín đại thọ đầu thuộc về Luật nghi hay Nhiếp luật nghi giới. Bốn đại thọ tiếp theo là thuộc về Nhiếp thiện hay Nhiếp pháp giới và bốn đại thọ sau cùng của chín đại thọ là Nhiếp sinh hay Nhiêu ích hữu tình giới.

Đại thọ thứ mười thuộc về Chánh pháp giới. Nghĩa là chứng chân lý chánh pháp ở nơi tâm, nhiếp thọ chánh pháp làm cho chánh pháp thường nhiên không rơi mất ở nơi tâm, trải qua các địa vị tu tập đối với các hạnh ba-la-mật trong quá trình thực hành Bồ tát đạo, cho đến khi thành bậc Giác ngộ hoàn toàn. (Thắng Man Kinh Nghĩa Ký, thượng, tr 871, Tục Tạng 19).

Theo ngài Cát tạng (549-623), đã nêu lên năm vị giảng sư trước đó giải thích về mười đại thọ, nhưng sử dụng cách giải thích mười đại thọ với tam tụ tịnh giới của vị giảng sư thứ năm. Nghĩa là năm đại thọ đầu là Nhiếp luật nghi. Vì chúng chấm dứt hết thảy điều ác. Trong năm điều đại thọ này, điều thứ nhất là nêu lên tổng quát về dứt ác; nghĩa đã từng thọ năm giới, tám giới… nên nay đối trước đức Phật phát thệ không khởi tâm phạm giới. Bốn điều còn lại là nêu lên từng chi tiết của Nhiếp luật nghi giới về dứt ác. Dứt điều ác là dứt kiêu mạn, sân hận, ganh tỵ, bỏn sẻn ngay ở nơi tâm mình. Bốn đại thọ tiếp theo thực hành tâm đại từ bi Nhiếp chúng sinh giới và đại thọ cuối cùng của mười đại thọ là Nhiếp thiện giới là nhiếp thọ chánh pháp. (Cát tạng -Thắng Man Bảo Quật, tr 790-794, Tục Tạng Kinh 19). Sự phối hợp mười đại thọ với tam tụ tịnh giới của ngài Cát tạng đồng quan điểm với Thắng Man Thuật Ký của ngài Khuy cơ và Thắng Man Kinh Sớ Nghĩa Tư Sao của Thánh Đức Thái Tử. (Tục Tạng Kinh 19).

Đối với mười đại thọ, ngoài cách phối hợp với Đại thừa tam tụ tịnh giới của các ngài Tuệ viễn, Cát tạng và các đại sư đi trước, ta cũng có thể phối hợp mỗi đại thọ trong mười đại thọ đều có đầy đủ cả tam tụ tịnh giới.

Chẳng hạn, đại thọ thứ nhất: “Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, con nguyện không bao giờ khởi tâm vi phạm giới đã được lãnh thọ”.

Giới mà Phu nhân Thắng Man đã lãnh thọ trong mười đại thọ ở đây là Đại thừa tâm địa giới, mà không phải là Thanh văn giới, vì sao? Vì Thanh văn giới, như Cận sự nam, Cận sự nữ, cho đến Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, chỉ “nguyện từ nay cho đến trọn đời không sát, không trộm cắp…”, nên khi mạng chung thì giới Cận sự nam, Cận sự nữ, Tỷ khưu, Tỷ khưu ni tự xả, vì vô biểu giới thể chỉ sinh khởi do sức thệ nguyện của người lãnh thọ mà thành tựu trong một đời. Nên, Thanh văn giới chỉ có khả năng phòng hộ điều ác cho người cầu thọ chỉ một đời. Và Bát quan trai giới thì giới biểu thành tựu, chỉ có khả năng phòng hộ điều ác cho người cầu thọ trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, qua hai mươi bốn tiếng đồng hồ là giới tự xả, vì sao? Vì do sức thệ nguyện của người cầu thọ chỉ chừng ấy thời gian, thì giới thể thành tựu và tồn tại trong chừng ấy thời gian để hộ trì cho họ, khiến họ không làm các điều ác đúng với sức thệ nguyện của họ. Cho nên, Thanh văn giới chỉ thuần về nhiếp luật nghi giới.

Trái lại, Bồ tát tâm địa là giới thiết lập trên nền tảng của Bồ đề tâm giới. Giới ấy, giới thể từ nơi tâm bồ đề mà sinh khởi và tồn tại theo thệ nguyện của người cầu thọ. Trong mười đại thọ của Phu nhân Thắng Man đã trực tiếp lãnh thọ từ đức Thế Tôn và đã phát nguyện không phải trọn đời mà nguyện từ nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, con không khởi tâm phạm vào giới pháp đã lãnh thọ; Con nguyện từ nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, đối với các bậc Tôn trưởng, con không khởi tâm kiêu mạn; Con nguyện từ nay cho đến khi thành tựu Bồ đề, đối với chúng sinh con không bao giờ khởi tâm hờn giận…

Như vậy, mỗi đại thọ trong mười đại thọ của Phu nhân Thắng Man, lãnh thọ từ đức Thế Tôn đều có đủ cả Đại thừa tam tụ tịnh giới. Nghĩa là có đầy đủ cả Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Nghĩa là trong mỗi đại thọ đều có khả năng dứt trừ điều ác không phải chỉ một đời, mà dứt trừ điều ác cho đến khi viên mãn bồ đề đại nguyện; không phải chỉ có khả năng thực hành điều thiện trong một đời, mà thực hành điều thiện cho đến khi viên mãn bồ đề đại nguyện và không phải chỉ có khả năng làm lợi ích cho chúng sinh trong một đời, mà làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh cho đến khi viên mãn bồ đề đại nguyện.

Nên, mười đại thọ mà Phu nhân Thắng Man lãnh thọ từ đức Thế Tôn, trong mỗi đại thọ của mười đại thọ đều có đủ cả Tam tụ tịnh giới.

Con đường tu tập và chuyển hóa Như lai tạng tướng để chứng nhập Như lai tạng tính, ở kinh Kim cang tam muội đưa ra ba phương pháp thực hành gồm:

1- Tùy sự thủ hành: Các sự tướng hiện tiền đều tuân thủ và thuận hành theo giác tính. Nghĩa là hành giả tâm luôn luôn ở trong trạng thái bất động và tỉnh giác, biết rõ muôn sự, muôn vật trước mắt không ra ngoài giác tính. Nghĩa là không ra ngoài Như lai tạng tính. Hết thảy chúng đều từ Như lai tạng tính mà biểu hiện. Hành giả duyên theo sự tướng huyễn hoặc trước mắt để tỉnh giác. Tỉnh giác ngay khi tâm duyên cảnh. Ngay nơi tâm duyên cảnh ấy mà chuyển hóa cái thấy biết của mình, khiến chúng trở lại với giác tính và lưu trú ở trong giác tính, nên gọi là Tùy sự hành.

2- Tùy thức thủ hành: Các thức uẩn đều tuân thủ và thuận hành theo giác tính. Nghĩa là bảy chuyển thức gồm: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức, Mạt-na thức từ nơi A-lại-da thức mà hiện hành, tiếp nhận ảnh tượng của các đối tượng sắc trần, đưa vào A-lại-da thức, huân tập thành chủng tử và lưu giữ tại A-lại-da thức, khiến A-lại-da thức bị ô nhiễm. Nên, hành giả trú tâm bất động và tỉnh giác đối với các chuyển thức ấy, biết rõ ba cõi chỉ do tâm tác thành, muôn pháp từ nơi A-lại-da thức tùy duyên mà biểu hiện. Chúng hiện hữu, nhưng không chân thật. Bản tính của nó rỗng không, hoàn toàn không có thực thể. Tùy thuận giác tính mà chuyển hành các thức như vậy, hành giả sẽ chứng nhập Như lai tạng tính, nên gọi là Tùy thức thủ hành.

3- Tùy như thủ hành: Tuân thủ và thuận hành theo chân như. Nghĩa là hành giả không duyên theo vọng tưởng, khởi các niệm tương tục sinh diệt mà thuận theo chân như, niệm niệm tương tục thanh tịnh, tỉnh giác bất động, ngay nơi các hành mà động tịnh đều ly, ngay nơi duyên sinh mà bất sinh, ngay nơi duyên diệt mà bất diệt, tĩnh tại thường nhiên ở trong Như lai tạng tính, gọi là Tùy như thủ hành.

Ở kinh Kim Cang Tam Muội này, đức Phật dạy Trưởng giả Phạm Hạnh rằng: “Ba pháp hành như vậy là thâu nhiếp hết thảy pháp môn. Hết thảy pháp môn đều thâu nhiếp vào ba pháp hành này. Người nào chứng nhập ba hành này, người ấy ở nơi tướng rỗng lặng không sinh khởi. Người nào chứng nhập được như vậy, có thể bảo rằng, người chứng nhập Như lai tạng, người ấy chứng nhập mà không chứng nhập gì cả”. (Kim Cang Tam Muội Kinh, tr327a, Đại Chính 9).

Ở kinh Hoa Nghiêm, phẩm Tịnh Hạnh, Bồ tát Văn Thù nói với Bồ tát Trí Thủ rằng: “Nếu các vị Bồ tát khéo léo sử dụng tâm của mình, thì quý vị có thể thâu hoạch được công đức thù thắng mầu nhiệm ở nơi pháp của chư Phật, với tâm không chướng ngại; thường trú ở trong đạo pháp của chư Phật ba đời, mà vẫn thường sống tùy thuận với chúng sinh không hề rời bỏ họ. Tướng chân như của các pháp đều thông đạt. Dứt sạch hết thảy điều ác; mọi điều thiện đều đầy đủ; hình tượng, sắc tướng sẽ là đệ nhất như Phổ Hiền. Đối với hết thảy hạnh nguyện đều đầy đủ; đối với hết thảy pháp đều tự tại, vì chúng sinh mà làm vị dẫn đường thứ hai”. (Hoa Nghiêm Kinh 80, tr69c, Đại Chính 10).

Bồ tát Văn Thù đã nói về sự khéo léo sử dụng tâm để đạt đến công đức thù thắng mầu nhiệm, bằng cách chúng ta làm bất cứ cái gì, bất cứ việc gì, đều nuôi dưỡng bồ đề tâm nguyện của mình ngay trong những hành động đang làm công việc ấy, để nguyện bồ đề của chúng ta luôn luôn có mặt ở trong mỗi hành hoạt của chúng ta, khiến cho hạnh nguyện của chúng ta tương thích với sự thanh tịnh, với Niết-bàn, với Như lai tạng tính. Thực hành như vậy, chính là ta đang từ Như lai tạng tướng mà thể nhập Như lai tạng tính vậy.

Nên, Bồ tát làm bất cứ việc gì cũng đều nuôi dưỡng đại nguyện Bồ đề ngay trong hành động ấy. Nhờ vậy, khiến cho ác nghiệp trở thành tịnh nghiệp, phiền não chuyển thành Bồ đề, sinh tử chuyển thành Niết bàn, A-lại-da thức chuyển Như lai tạng tính.

Phẩm Tịnh Hạnh của kinh Hoa Nghiêm, trình bày cho chúng ta một trăm bốn mươi mốt bài thi kệ thực tập, để nuôi dưỡng tâm hạnh bồ đề của chúng ta, khiến trong mỗi hành hoạt của chúng ta đều thường trú ở trong giác tính hay Như lai tạng tính của chư Phật ba đời mà vẫn không hề bỏ hạnh nguyện lợi sinh.

Tôi xin nêu lên một số bài thi kệ thực tập như sau:

“Bồ tát tại gia,
đương nguyện chúng sinh
tri gia tính-không
miễn kỳ bức bách”.

Nghĩa là:
“Bồ tát ở nhà
xin nguyện chúng sinh
biết nhà rỗng lặng
liền thoát bức não”.

 
“Hiếu sự phụ mẫu
đương nguyện chúng sinh
thiện sự ư Phật
hộ dưỡng nhất thiết”.

Nghĩa là:
“Hiếu sự cha mẹ
xin nguyện chúng sinh
việc lành nơi Phật
chăm sóc tất cả”.

 
“Thê tử tập hội
đương nguyện chúng sinh
oán thân bình đẳng
vĩnh ly tham trước”.

Nghĩa là:
“Vợ con đoàn tụ
xin nguyện chúng sinh
oán thân bình đẳng
xa lìa vướng mắc”.

 
“Nhược đắc ngũ dục
đương nguyện chúng sinh
bạt trừ dục tiễn
cứu cánh an ổn”.

Nghĩa là:
“Nếu được năm dục
xin nguyện chúng sinh
nhỗ mũi tên dục
tuyệt đối an ổn”.

“Kỹ nhạc tụ hội
Đương nguyện chúng sinh
Dĩ pháp tự ngu
Liễu kỹ phi thực”.

Nghĩa là:
“Nhóm họp ca nhạc
xin nguyện chúng sinh
tự vui chánh pháp
biết nhạc không thực”…

(Tịnh Hạnh Phẩm – Hoa Nghiêm Kinh 80. Tr70, Đại Chính 10).

Như vậy, phương pháp chuyển hóa ô nhiễm nơi tâm thức thành thanh tịnh, chuyển hóa nghiệp thức nhiễm ô, thành hạnh nguyện thanh tịnh, Như lai tạng tướng thành Như lai tạng tính bằng con đường tịnh hóa thân tâm với đại nguyện Bồ đề. Chính đại nguyện này đưa ta trở về với Như lai tạng tính vốn có và thanh tịnh nơi tất cả chúng ta.

Thấy và hội nhập với Như lai tạng tính, chính là thành Phật, như Bồ đề Đạt Ma nói: “Giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” là kiến Như lai tạng tính này đây. Và do kiến Như lai tạng tính này đây, nên Lục Tổ Huệ Năng nói: “Nào có ngờ đâu, tự tính xưa nay vốn thanh tịnh; tự tính vốn không sinh diệt; tự tính vốn đầy đủ hết thảy công đức; tự tính vốn không lay động; tự tính năng sinh vạn pháp!”. (Pháp Bảo Đàn Kinh, tr349a, Đại Chính 48).

Tu tập không thấy được Như lai tạng tính thì không thể thành Phật, tác Tổ. Và dù cho ta có tu tập trải hắng sa ức kiếp mà không thấy được Như lai tạng tính và không sống với tính ấy mỗi ngày, thì con đường sinh tử khó thoát ra.

Lịch sử – Các dịch bản – Các Chú, Sớ bản
 
Lịch sử

Như lai hay Tathāgata, là từ ngữ đã được đức Phật sử dụng trong thời pháp thoại đầu tiên cho năm em Kiều Trần Như, được ghi lại ở trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm 11, Đại Chính 3; Và Thai tạng hay garbha đã được đức Phật sử dụng để chia sẻ với Phạm-chí về vấn nạn là Như lai có nhập thai hay không nhập thai sau khi Niết bàn, được ghi lại trong Hoàng lô viên, ở Trung A-hàm, Đại Chính 1; Và Như lai tạng hay Tathāgata-garbha, được sử dụng trong phẩm tự, Tăng Nhất A-hàm 1, tr550c3, Đại Chính 2: “Người nào chuyên tâm trì tụng kinh Tăng Nhất, tức là Tổng trì Như lai tạng”.

Lại nữa, kinh Ương-quật-ma-la, Đại Chính 2, tr 537c, đức Phật dạy cho Ương-quật-ma-la về Như lai tạng tính, đời vị lai sau khi chánh pháp trụ thế hơn 80 năm, nói về Như lai tạng bất biến thường hằng, thuộc kinh điển Đại thừa là rất khó. Nếu có chúng sinh và đồng chủng loại giữ gìn là rất khó. Nếu có chúng sinh nghe nói Như lai tạng thường hằng, bất biến, đúng như thật mà tùy thuận lại càng khó hơn…”.

Từ những tư liệu của các kinh văn như vậy, đã cho ta những thông tin rằng, Tư tưởng Như lai tạng xuất hiện ngay trong sơ kỳ Phật giáo là thời Phật giáo A-hàm. Nghĩa là Tư tưởng Như lai tạng xuất hiện trong giáo nghĩa đức Phật bắt đầu từ năm thứ nhất đến năm thứ mười hai, kể từ khi đức Thế Tôn thành đạo.

Sau năm thứ mười ba kể từ đức Thế Tôn thành đạo và chuyển Pháp luân, thì tư tưởng Như lai tạng lại được đức Phật đề cập nhiều lần đến với đại chúng bấy giờ và chúng đã được kết tập lại ở trong kinh Như Lai Hưng Hiển, Đại Chính 10, nói về “Tất cả chúng sinh đều có phẩm tính trí tuệ của Như lai”. Nghĩa là kinh nói về Như lai tạng tính là phẩm tính vốn có nơi hết thảy chúng sinh.

Kinh Đại Ai, Đại Chính 13, đưa ra ví dụ “ngọc quý không cáu bẩn”. Ấy là nói về Như lai tạng tính, nơi tâm nhiễm ô của chúng sinh không hề cáu bẩn. Và kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng, Đại Chính 16, trong kinh này đức Phật dùng chín thí dụ để chỉ cho Như lai tạng tính vốn có sẵn nơi hết thảy tâm tính nhiễm ô của chúng sinh.  Trong chín ví dụ ấy, ví dụ nào cũng thực tế và sâu sắc, nhất là ví dụ Tượng Phật vàng bọc trong miếng giẻ rách tanh hôi.

Kinh Phật Thuyết Bất Tăng Giảm, Đại Chính 16, đức Phật dạy: “Như lai tạng tính nơi hết thảy chúng sinh không tăng giảm và pháp giới tạng không tăng, không giảm”.. Kinh Phật Thuyết Vô Thượng Y, Đại Chính 16, đức Phật dạy: “Như lai tạng tính là nơi nương tựa tối thượng”…

Qua các kinh điển đã dẫn như trên, cho ta biết rằng, Tư tưởng Như lai tạng đã trở thành phổ biến trong thời kỳ thuyết giáo của đức Phật từ năm thứ mười ba trở về sau,  hay nói theo sự phán giáo của ngài Trí Khải (538-597), ấy là thời kỳ Phật giáo Phương Đẳng.

Kinh Thắng Man, xuất hiện muộn nhất là cuối thời kỳ Phương Đẳng, nghĩa là vào khoảng năm thứ hai mươi, kể từ khi đức Thế Tôn thành đạo.

Vua Ba-tư-nặc (Parasenajit, Pasenadi) và Phu nhân Mạt-lợi (Mallikā), sau khi quy y Phật và được Phật giáo hóa, nhân Đại vương đau khổ do Hoàng Thái hậu băng hà đã đến Tinh xá Kỳ viên bạch Phật, về sự qua đời của Hoàng Thái Hậu và thưa lên việc mất mát to lớn và sự đau buồn của chính mình. Vua đã được Phật an ủi và dạy: “Ở đời có bốn tai họa lớn đáng sợ hãi nhất mà không ai thoát khỏi gồm: Họa bị già; họa bị bệnh; họa bị chết và họa ân ái mà bị biệt ly”. Sau khi nghe đức Phật dạy, vua Ba-tư-nặc thưa Phật kinh pháp này, nên gọi tên gì, đức Phật dạy là: “Trừ ưu họa kinh”. (Phật Thuyết Ba Tư nặc Vương Thái Hậu Băng Trần Thổ Bộn Thân Kinh, tr555, Đại Chính 2). Và vua cũng từng tham dự làm thính chúng nghe kinh Ương-quật-ma-la. Ở kinh này, đức Phật dạy cho Ương-quật-ma-la về Như lai tạng thường hằng bất biến. Và giáo nghĩa Đại thừa này rất khó tín sau khi chánh pháp trụ thế hơn 80 năm… Sau khi nghe đức Phật day kinh này, vua Ba-tư-nặc, bạch đức Thế Tôn, con sẽ tu hành đại thí bảy ngày. Phước điền của Như lai giáo hóa Ương-quật-ma-la nay mới chính là phước điền”. (Ương-ma-la-quật kinh 4, tr 537-544, Đại Chính 2).

Từ nỗi đau buồn mất hoàng Thái hậu của vua Ba-tư-nặc, đến Tinh xá Kỳ viên, nghe Phật dạy về bốn nỗi sợ hãi lớn mà không ai thoát khỏi, cho đến khi vua nghe đức Thế Tôn dạy về Như lại tạng tính thường hằng bất biến là pháp rất khó hiểu, rất khó tùy thuận cho Ương-quật-ma-la và thính chúng đương hội, khi nghe xong, vua phát tâm tu tập đại thí bảy ngày và cũng có thể trong thời gian này, là nhân duyên để vua viết thư ca ngợi về phẩm tính giác ngộ siêu việt của Như lai, cho con gái của mình là Phu nhân Thắng Man là Hoàng hậu của vua Hữu Xứng, nước A-du-đà (Ayodhayā), và mong con gái của mình có nhân duyên gặp Phật để có được vô biên lợi ích.

Như vậy, qua bức thư của Phụ vương và Mẫu hậu gửi con gái Thắng Man, nhờ nhân duyên ấy mà Phu nhân Thắng Man gặp Phật và trình lên giáo nghĩa Như lai tạng một cách sâu xa, mà trước đó đức Phật đã nói về Như lai tạng, nhất là nói trong thính hội của Ương-quật-ma-la, nhưng ở trong thính hội này có những vị thuộc căn khí Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát mới phát tâm, chưa lãnh hội giáo nghĩa Như lai tạng này một cách trọn vẹn, thấu đáo.

Vì vậy, tư tưởng của Như lai tạng hàm chứa trong kinh Thắng Man, do Phu nhân Thắng Man trình bày với đức Phật, xuất hiện phải cuối thời kỳ Phật giáo Phương Đẳng, nghĩa là từ năm hai mươi kể từ khi Thế Tôn thành đạo trở về sau và tư tưởng Như lai tạng này là sợi chỉ xuyên suốt cả các thời kỳ Phật giáo Bát nhã, Pháp hoa và Niết bàn.

Sau Phật Niết bàn, khoảng từ một trăm năm đến ba trăm năm, Phật giáo bộ phái xuất hiện đã có nhiều góc nhìn về Chánh pháp thời Phật sâu cạn, rộng hẹp khác nhau.

Bộ phái Thuyết nhất thiết hữu bộ, chủ trương: “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu”. Vì do chủ trương như vậy, nên lấy chủ trương đặt tên bộ phái. Họ cho rằng, các pháp sắc tâm, tâm sở, hữu vi, vô vi… đều có thực thể. Phái này không bằng lòng với giáo nghĩa “tâm tính bản tịnh” của Đại chúng bộ.

Trong lúc Đại chúng bộ cho rằng: “Tâm tính bản tịnh”. Nghĩa là tính của tâm vốn thanh tịnh, ô nhiễm là do tâm bị dao động, phiền não khởi lên, khiến bản tính vốn thanh tịnh của tâm bị che khuất.

Chủ trương “tâm tính bản tịnh” của Đại chúng bộ là cách trình bày khác đi đối với giáo nghĩa “Như lai tạng tính”, mà ở các kinh Ương-quật-ma-la (Đại Chính 1); Đại phương đẳng Như lai tạng; Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh, (Đại  Chính 16), Thắng Man Sư Tử Hống (Đại Chính 12)… đã đề cập.

Độc-tử-bộ chủ trương quá khứ, hiện tại, vị lai, vô vi, bất khả thuyết, năm tạng này là thực hữu. Và bộ phái này chủ trương có Bổ-đặc-già-la (Pudgala), bản ngã, chủ thể của sự tái sinh và cho rằng, Bổ-đặc-già-la là bất khả thuyết. Bổ-đặc-già-la với năm uẩn là phi tức phi ly. Do chủ trương này, Độc-tử-bộ, bị các Bộ phái Phật giáo khác phản bác kịch liệt. Nhưng, Chính lượng bộ, Kinh lượng bộ lại ủng hộ chủ trương này.

Pudgala mà Độc-tử-bộ chủ trương yếu tố dẫn đến tái sinh không phải là Như lai tạng mà các kinh thuộc thời Phật giáo Phương Đẳng đề cập. Bởi Như lai tạng tính vốn bản tịnh không sinh diệt, không ô nhiễm. Nhưng, Pudgala, Độc tử bộ chủ trương là chủ thể tái sinh đời sau, nó đã được các nhà Phật học Đại thừa Duy thức xem nó là A-lại-da-thức. Và thức này khi ngũ uẩn phân rã thì nó thoát ra sau cùng, nhưng khi tái sinh thì nó xuất hiện trước hết.

Tư tưởng Như lai tạng từ kinh văn đã được các luận sư trình bày khai triển, phân tích không những từ góc nhìn tư duy triết học mà còn kinh qua những trải nghiệm tu tập của chính mình.

Thế Thân (Thế kỷ IV TL) đã viết Phật tính luận, để giải thích hết thảy chúng sinh đều có Phật tính. Và cho rằng Phật tính có ba chủng loại:

Một, Trụ tự tính tính: Hết thảy chúng sinh vốn có Phật tính.
Hai, Dẫn xuất tính:  Do trải qua nhiều phương pháp tu hành, mà Phật tính hiển hiện.
Ba, Chí đắc tính: Đạt đến quả vị giác ngộ là viên mãn Phật tính. (Thế Thân, Phật Tính Luận, Đại Chính 31).

Như vậy, Phật tính hay Như lai tạng tính được các kinh điển đề cập ở thời kỳ Phật giáo Phương Đẳng, đến thế kỷ IV, sau TL, ở Ấn Độ, các Luận sư Phật giáo, đã chú giải theo cách phân tích của Triết học.

Trong luận phẩm Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính, hiện có ở Đại Chính 31, không ghi tác giả tạo luận, chỉ ghi Lặc-na-ma-đề dịch từ Phạn sang Hán vào thời Hậu Ngụy. Nhưng, theo truyền thuyết Phật giáo Trung quốc cho rằng, luận phẩm này là do Luận sư Kiên Tuệ trước tác. Kiên Tuệ là ai? Theo Đại Thừa Pháp Giới Vô Sai Biệt Luận Sớ, thì Kiên Tuệ ở chùa Na-lan-đà, Trung Ấn, ra đời cách Phật Niết bàn bảy trăm năm. Nhưng, theo tư liệu Phật giáo Tây tạng cho rằng, vị tạo luận này phần kệ tụng của Di-lặc, phần giải thích là của Vô-trước. Tuy, các Nhà nghiên cứu tranh luận nhau về tác giả tạo luận này, nhưng thực tế bản luận này hiện có ở trong hệ Hán tạng, do Lặc-na-ma-đề dịch, thời Hậu Ngụy ở Đại Chính 31. Qua luận phẩm này cho ta biết rằng, tư tưởng Như lai tạng xuất hiện ở thời kỳ đầu của Phật giáo Ấn Độ.

Như vậy, ta thấy hệ tư tưởng Như lai tạng của Phật giáo có mặt ở Ấn Độ ở thời kỳ đầu và phát triển xuyên suốt cho đến thế kỷ thứ IV, khi ngài Thế Thân ra đời viết Phật tính luận để giải thích Phật tính vốn có sẵn nơi hết thảy chúng sinh. Phật tính là tên gọi Như lai tạng, Pháp thân, Nhất đế, Nhất y, Tự tính thanh tịnh của kinh Thắng Man.

Tư tưởng Như lai tạng ở Ấn Độ phát triển mạnh mẽ, ở thế kỷ IV và V, ở Bắc Ấn. Phật-đà-bạt-đà-la (359-429), người Bắc Ấn, sinh năm 359 TL, thành Na-ha-lợi, thuộc dòng họ Thích, cháu của Cam-lộ-phạn vương. Năm mươi ba tuổi xuất gia học thông kinh điển, sau đó theo bạn đến Kế-tân học với Phật-đại-tiên, rồi đến Trung quốc thời Hậu Tần, năm 408 và ngài đã dịch rất nhiều kinh luận ở Đông Tấn, trong đó có Đại Phương Đẳng Như Lại Tạng Kinh.

Qua bản kinh này, cho ta thông tin, vào thế kỷ IV và V, tư tưởng Như lai tạng rất thạnh hành ở Bắc Ấn, Kế-tân mà Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra) là vị không những học thông về tư tưởng Như lai tạng mà còn là nhà hoằng pháp về tư tưởng này, ở Bắc Ấn và Kế-tân cho đến khi vào đất Trung quốc, khoảng năm 408 TL, ở thời Hậu Tần cho đến thời Đông Tấn.

Tư tưởng Như lai tạng ở kinh Thắng Man, đến thế kỷ thứ V, cũng đã tiếp tục phát triển tại miền Trung Ấn, và cũng đã được Cầu-na-bạt-đà-la (394-468) học tập, tiếp thu và khi đến Trung quốc năm 435, thời Lưu Tống, ở chùa Kỳ Hoàn ở Quảng Châu để dịch, trong đó Ngài đã dịch kinh Thắng Man này hoằng pháp về giáo nghĩa Như lai tạng.

Ở Trung quốc tư tưởng Như lai tạng xuất hiện và có một ảnh nhất định khi các dịch phẩm được cao Tăng đến từ Ấn Độ đến Trung quốc dịch Kinh và Luận từ Phạn sang Hán từ thời của các Ngài như: Phật-đà-bạt-đà-la, Cầu-na-bạt-đà-la, Chân-đế, Bồ-đề-lưu-chi, lặc-na-ma-đề… Và đã có một ảnh hưởng rất lớn, đến nền học thuật Trung quốc bấy giờ, như các ngài Tuệ viễn (523-592), Cát tạng (549- 623), Khuy cơ (632-682)

Nhưng hệ tư tưởng Như lai tạng này, truyền đến Trung quốc sớm nhất phải ở trước thế kỷ III, sau khi Pháp Cự, cao Tăng Trung quốc dịch kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng, từ Phạn sang Hán vào thời Tây Tấn. Điều ấy chứng tỏ rằng, hệ tư tưởng Như lai tạng truyền đến Trung quốc khá sớm. Địa luận tông của Phật giáo Trung quốc, dựa vào Thập Địa Kinh Luận của ngài Thế Thân soạn, (Đại Chính 26) do Bồ-đề-lưu-chi và Lặc-na-ma-đề dịch từ Phạn sáng Hán vào thời Bắc Ngụy, khoảng 508 TL, để thiết lập tông chỉ cho rằng, Như lai tạng là cứu cánh, đưa ra thuyết Như lai tạng duyên khởi và lập ra thuyết Tịnh thức duyên khởi. Thiên thai tông của Trung quốc do ngài Trí Khải thiết lập ở thế kỷ thứ VI, lấy kinh Pháp Hoa làm tông chỉ, lại cho rằng, Như lai tạng là Thực tướng và xem nó là diệu pháp không thể nghĩ bàn.

Và từ Phật giáo Trung quốc, tư tưởng Như lai tạng ở kinh Thắng Man cũng đã truyền đến Nhật bản vào thời Thánh Đức Thái Tử (572-621). Thánh Đức Thái Tử đã giảng dạy kinh Pháp Hoa, Duy Ma Cật và Thắng Man ở trong vương triều, Ông lại còn viết chú sớ ba bộ kinh này. Và tư tưởng Như lai tạng cũng đã có một ảnh hưởng nhất định đối với Phật giáo Tân-la (Triều Tiên), nhất là đối với nhà sư Nguyên Hiểu (617-?)., vị cao tăng của Phật giáo Tân-la thời bấy giờ. Có lần sư Nguyên Hiểu vượt biển sang Trung quốc để cầu học pháp, giữa đường Sư suy nghĩ: “Ngoài tâm không có pháp, cần gì phải tìm kiếm ở đâu”. Sư quay về không đi Trung quốc nữa. Sư đã để lại cho đời rất nhiều tác pháp như Hoa Nghiêm Kinh Sớ, A Đi Đà Kinh Sớ, Kim Cang Tam Muội Kinh Luận, Pháp Hoa Tông yếu…”. Ở Kinh Kim Cang Tam Muội, phẩm bảy nói về Như lai tạng, đức Phật dạy cho Trưởng giả Phạm Đạt, về Nhất vị. Nhất vị chính là Phật đạo, Nhất thừa, Như lai tạng tính. Nguyên Hiểu đã từng giảng luận kinh này, nên tư tưởng Như lai tạng đã có một ảnh hưởng nhất định đối với nhà sư này, khi Ông ngộ ra: “Ngoài tâm không có pháp”. Nghĩa là hết thảy pháp đều không ra ngoài Như lai tạng tính.
 
Các dịch bản

Trong lịch sử truyền dịch kinh Thắng Man có bốn bản Hán dịch.

1- Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Phương Tiện Kinh, do Pháp sư Đàm Ma (Dharma) dịch, vào triều An đế nhà Tấn (397-418). Bản dịch này hiện không tìm thấy ở trong Đại Chính. Nhưng ở trong Thắng Man Kinh Sớ Nghĩa Tư Sao của Minh Không đời Đường có đề cập. (tr 925b, Tục Tạng 19).

2- Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Kinh, một cuốn, do ngài Đàm-vô-sấm dịch, đời Bắc Lương, không tìm thấy ở ở Đại Chính, chỉ thấy ở trong Lịch đại Tam bảo kỷ 9, có đề cập đến tên kinh, nhưng ở trong Pháp kính lục một và Ngạn Tông lục một, không thấy đề cập đến bản dịch này của Đàm-vô-sấm.

3- Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Đại Quảng Kinh, do Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhara: 394- 468) dịch, vào thời Lưu Tống (424-453), hiện có ở Đại Chính 12, tr217, số ký hiệu 310.

Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra: 394-468), dòng dõi Bà-la-môn, ở miền Trung Ấn Độ. Thiếu thời học giỏi Ngũ minh, nghiên cứu và giỏi về các môn học Thiên văn, Thư số, Y khoa và Chú thuật… Sau đó nghiên cứu A-tỳ-đàm tạp tâm luận, sùng kính Phật pháp, liền xuất gia thọ cụ túc giới và học thông tam tạng, xuyên suốt các kinh luận Phật giáo Bộ phái và Đại thừa. Đời Lưu Tống, năm Nguyên gia 12 (435), Ngài đến Quảng Châu bằng đường biển, vua Văn Đế sai sứ ra đón và rước về chùa Kỳ Hoàn ở Kiến Khang để phiên dịch kinh điển từ Phạn sang Hán. Ngài đã dịch rất nhiều kinh, trong đó có kinh Thắng Man. Năm Thái Thủy thứ tư, đời Minh Đế (468), Ngài thị tịch.

4- Thắng Man Phu Nhân Hội, do Bồ Đề Lưu Chí (Bodhiruci: 562-727) dịch vào đời Đường, niên hiệu Thần Long thứ 2 (707), thu vào ở trong Đại Bảo Tích Hội 48, hiện có ở trong Đại Chính 11, tr 672, số ký hiệu 353.

Bồ Đề Lưu Chí, trước có tên là Đạt-ma-lưu-chi (Dharmaruci), sinh vào năm 562, xuất thân trong dòng dõi Bà-la-môn, ở Nam Ấn Độ. Trước đó theo học với các giáo sĩ Bà-la-môn, thông hiểu Số luận, Thanh minh, Thiên văn, Địa lý… Năm 60 tuổi mới hiểu được những nghĩa lý sâu xa trong Phật giáo, liền ẩn ở hang núi để tu hạnh đầu đà. Sau đó theo ngài Da-xá-cù-sa học thông tam tạng, liền đi khắp nơi để diễn giảng. Vua Cao Tông đời Đường nghe danh, cử sứ thần đến rước. Năm 693, Ngài đến kinh đô Trường An, Vũ hậu Tắc thiên rất trọng đãi, thỉnh Ngài đến chùa Thụ Ký ở Lạc Dương để dịch kinh, sau đó Ngài đến chùa Sùng Phúc để tiếp tục sự nghiệp phiên dịch. Ngài mất năm 727, thọ 166 tuổi.
 
Các chú, sớ bản

1- Thắng Man Kinh Bảo Quật của ngài Cát tạng soạn. Ngài Cát tạng (549-623), vị Cao tăng của Phật giáo Trung quốc đời Tùy, Tổ tiên là người nước An-tức (Parthia), ngày xưa thuộc Ba-tư, nay là Iran. Damhang (Dăn-căn) ngày nay là Vương đô của An-tức (Parthia) ngày xưa. Lúc lên bốn tuổi Ngài theo thân phụ yết kiến ngài Chân-đế (Paramārtha: 499-569), đến Trung quốc từ nước Ujjaini (Ưu-thiền-ni) Tây bắc Ấn Độ và đã được ngài Chân-đế đặt tên là Cát tạng. Sau đó xuất gia với ngài Pháp lãng ở chùa Hưng hoàng, học Tam luận, mười chín tuổi bắt đầu giảng kinh luận và hai mươi mốt tuổi thọ cụ túc giới. Ngài thông hiểu và giảng diễn nhiều kinh luận ở khắp nơi vào thời Tùy, Ngài đã phiên tả hơn hai ngàn bộ kinh Pháp Hoa, thường đảnh lễ Bồ tát Phổ hiền và quán chiếu lý thực tướng. Trước khi mất, Ngài tắm rữa sạch sẽ, thắp hương cúng Phật, viết: “Tử bất bố luận” xong và tịch, thọ bảy mươi lăm tuổi. Ngài đã trước tác và diễn giảng nhiều bộ kinh luận lớn như: Pháp hoa, Niết bàn, Đại phẩm, Thắng Man, Duy Ma Cật, Vô Lượng Thọ…

Kinh Thắng Man Bảo Quật, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, gồm có sáu cuốn, hiện có ở Đại Chính 37 và Tục Tạng 19.

Ngài Cát tạng đã chú giải tác phẩm này rất công phu và tỉ mỉ. Ngài Cát tạng đã nêu lên năm huyền nghĩa gồm: Giải thích tên kinh, nói về duyên khởi của kinh, luận bàn Tông chỉ của kinh, phân biệt sự khác nhau giữa giáo nghĩa kinh này với giáo nghĩa các kinh, giải thích nội dung kinh.

Ngài cũng đã bàn luận yếu chỉ của kinh qua mười lăm chương và có ý kiến không đồng về nội dung của một số chương kinh này, sắp xếp theo bản dịch của Cầu-na-bạt-đà-la.

Điều đặc biệt trong bản chú giải này, ngài Cát tạng đã trích dẫn hơn bốn mươi bộ kinh luận… Lại còn trích dẫn kinh điển ngoại tạng như: Tượng pháp quyết nghi kinh, Xà vương sám hối kinh… và trích dẫn Thắng Man kinh chú sớ yếu nghĩa của các nhà Lương vũ biệt thích, Cổ chú, Cổ sớ, Chú duy ma, không những vậy, ở Thắng Man Bảo Quật, ngài Cát tạng còn dẫn các giáo thuyết của các Ngài như: Đàm lâm, Tăng triệu, Trúc đạo sinh, Đàm ảnh, Bồ đề lưu chí, các Luận sự thuộc Thành Thật luận… Và một số kinh Thắng Man được các Đại sư soạn và chú sớ ở thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều đã bị thất lạc, nhưng lại tìm thấy một vài đoạn được ngài Cát tạng trích dẫn ở trong bản kinh Thắng Man Bảo Quật này.

Ngài Cát tạng dùng chữ Bảo Quật đặt tên cho bản chú giải kinh Thắng Man của mình với ý nghĩa: Quật là cái hang. Bảo Quật là hang báu. Nghĩa là kinh Thắng Man là hang hàm chứa những giáo nghĩa quý báu của chánh pháp.

2- Thắng  Man Kinh Nghĩa Ký của ngài Tuệ viễn soạn. Ngài Tuệ viễn (523-592) đời Tùy đã soạn Thắng Man Kinh Nghĩa Ký có hai cuốn, hiện có ở Tục Tạng 19.

Ngài Tuệ viễn (523-592), họ Lý, người ở Đôn hoàng, tỉnh Cam Túc. Năm mười ba tuổi xuất gia với ngài Tăng Tư; năm mười sáu tuổi đến Nghiệp đô (Lâm chương, Hà bắc) theo ngài Trạm luật sư học tập các kinh điển; năm hai mươi tuổi thọ cụ túc giới với ngài Pháp Thượng, thờ ngài Pháp Thượng làm thầy học hết các bộ luật và lại học luật Tứ phần với ngài Đại Ẩn. Sau đó đến chùa Thanh hóa ở Cao đô (Tấn thành, Sơn tây) xây dựng giảng đường. Đời Vũ đế Bắc chu diệt Tề và phá hủy Phật giáo, ngài Tuệ viễn can vua và nói: “Nay Bệ hạ cậy mình là vua, ra tay phá diệt Tam bảo, đó là người tà kiến. Địa ngục A-tỳ chẳng lựa sang hèn, Bệ hạ không sợ hay sao?”. Vua nổi cơn thịnh nộ nói: “Chỉ cần trăm họ được yên vui, Trẫm không quản ngại các nổi khổ ở địa ngục”. Thế là vua quyết định tiêu diệt Phật giáo. Ngài biết vậy, liền ở ẩn tại Tây sơn, quận Cấp, trì tụng thuộc lòng kinh Pháp Hoa và Duy Ma… cầu cho Phật giáo vượt qua pháp nạn. (tr490c, Đại Chính 50).

Đến đời nhà Tùy, ngài mới xuất hiện mở Đạo tràng thuyết pháp. Ngài được vua Tùy vua kính trọng, thỉnh vào vương triều thuyết pháp. Ngài là vị Tăng thông hiểu Nhiếp Đại thừa luận, Địa tông luận và nghiên cứu sâu rộng các các học thuyết đương thời, nên được người thời bấy giờ tôn tặng “Thích nghĩa cao tổ”. Ngài mất năm 592, thọ bảy mươi tuổi. Ngài đã để lại rất nhiều tác phẩm trước tác, nghiên cứu quý báu cho đời, trong đó có tác phẩm Thắng  Man Kinh Nghĩa Ký, gồm hai cuốn.

Kinh Thắng Man Nghĩa Ký, do ngài Tuệ viễn biên soạn chia bốn phần. Phần tổng luận nêu rõ giáo pháp của Thế Tôn, chủ yếu có hai tạng là Thanh văn tạng và Bồ tát tạng. Và trích dẫn lời ngài Long Thọ nói về việc kết tập hai tạng kinh gồm Thanh văn tạng do ngài Ca-diếp và A-nan kết tập ở thành Vương-xá. Ngài Văn thù và A-nan kết tập ở Thiết-vi sơn, kết tập Ma-ha-diễn kinh, ấy là kinh điển Đại thừa, gọi là Bồ tát tạng. Và ngài Tuệ viễn cũng dẫn chứng kinh Địa Trì nói rằng: “Đức Phật vì Thanh văn hạnh và Bồ tát hạnh mà nói Kinh, nêu ra Khổ và Đạo”.

Theo ngài Tuệ viễn, giáo nghĩa kinh Thắng Man, có ở trong hai tạng cả Thanh văn tạng và Bồ tát tạng, nhưng vì căn khí của người thuần thục, nên thâu nhiếp về Bồ tát tạng, pháp luận đốn giáo như đã biết là ở kinh này. (Tuệ viễn, tr862, Tục Tạng 19).

Và ngài Tuệ viễn cũng đã chia kinh này thành ba phần là Tựa phần, Chánh tông phần và Lưu thông phần đề phân tích và giải thích giáo nghĩa tổng quát cũng như nội dung chi tiết trong từng chương của kinh này một cách tỉ mỉ.

3- Thắng Man Kinh Thuật Ký của ngài Khuy cơ, đời Đường. Ngài Khuy cơ (632-682), cũng gọi là Linh Cơ, Thừa Cơ, Đại thừa Cơ, Cơ Pháp Sư, Từ Ân Đại sư, Từ Ân Pháp sư. Ngài họ Úng trì, tự Hồng đạo, người Trường an (Tây an, Thiểm tây), đời Đường. Ngài tướng mạo khôi ngô, bẩm tính thông tuệ. Mười bảy tuổi xuất gia với ngài Huyền tráng ở chùa Quảng phúc, sau đó dời về chùa Đại Từ Ân học Phạn văn và các kinh luận Phật giáo với ngài Huyền tráng. Năm hai mươi lăm tuổi tham dự và dịch trường của ngài Huyền tráng. Mất năm 682, thọ năm mươi tuổi. Ngài đã dịch và chú giải nhiều kinh luận. Trong đó có Thắng Man Kinh Thuật Ký, gồm có hai cuốn.

Thắng Man Kinh Thuật Ký của ngài Khuy cơ, hiện có ở Tục Tạng 19. Tên kinh gọi là Thuật ký là do kinh này Khuy cơ giảng thuyết và học trò Nghĩa Linh ghi lại.

Kinh này ngài Khuy cơ chia ba phần gồm: Lý do thuyết kinh, Quảng thuyết phần và thứ ba là Y hành phần.

Ở kinh này ngài Khuy cơ giải thích những từ ngữ khá tỉ mỉ và đối chiếu với các từ ngữ Phạn văn khá rõ ràng nhất là cách phiên âm Phạn văn. Chẳng hạn, từ ngữ Prasenajit của Phạn hay Pasenadi của Pāli, một số nhà Hán dịch phiên âm Ba-tư-nặc, nhưng ngài Khuy cơ đề nghị, nên phiên âm từ này là Bát-lê-tỳ-na-thị và dịch là Thắng quân vương. Và Śrīmālā, ngài Khuy cơ phiên âm là Mạt-lợi-thất-la và dịch là Thắng Man có ba nghĩa: Một, Phu nhân gieo nhân lâu đời, nên hành quả là thông tuệ lợi căn, kham nghe diệu pháp, pháp thù thắng rót vào ở nơi tâm. Người nữ ấy là Man, nên gọi là Thắng Man. Hai, Mạt-lỵ tuy sinh nhiều người con, nhưng Thắng Man tướng mạo đoan chính, tài lượng khó nghĩ, được Mạt-lỵ thương quý hơn hết, nên gọi là Thắng Man. Ba, mẹ trước là tiện, sau mới tôn quý, Phu nhân trước sau đều tôn quý hơn mẹ, nên gọi Thắng Man (Khuy cơ, Thắng Man Thuật Ký, tr899a, Tục Tạng 19).

Vì vậy, ở Thắng Man Thuật Ký, ngài Khuy cơ giải thích từ ngữ rất cặn kẽ và rõ ràng, đây là một trong những nét đặc điểm của bản kinh này. Hơn nữa, ở bản kinh này, ngài Khuy cơ đặt ra những nạn vấn và trả lời những nạn vấn cũng rất linh hoạt và thú vị.

4- Thắng Man Kinh Sớ Nghĩa Tư Sao, Sớ là của Thánh Đức Thái Tử và Tư sao là của Minh Không.

Thánh Đức Thái Tử (572-621), cũng gọi là Cứu hộ hoàng tử, Phong thông nhĩ mệnh, Thượng cung thái tử, Thánh vương. Ấy là vị hoàng tử thứ hai của vương triều Thiên hoàng Dụng minh Nhật bản. Thái tử bẩm sinh thông minh làm Nhiếp thời Thiên hoàng Suy cổ. Thái tử giỏi Phật học, Nho học, Lịch số, Thiên văn, Địa lý… Ông tiếp nhận nền Phật học từ Phật giáo đời Tùy của Trung quốc. Ông đã đặt ra mười chức quan và Hiến pháp 17 điều làm nòng cốt cho nền chính trị Nhật bản vào thời bấy giờ. Điều 2 của bản Hiến pháp quy định niềm tin chân chính đối với Tam bảo. Thái tử tin tưởng tuyệt đối vào giáo nghĩa Đại thừa, tận lực giảng dạy và truyền đạt giáo nghĩa của ba kinh Pháp Hoa, Duy Ma Cật và Thắng Man đến mọi thành phần xã hội, chủ trương cứu tế nhân sinh, xây dựng bốn ngôi chùa gồm Tứ Thiên vương, Pháp long, Quảng long, Pháp hưng, truyền bá Phật giáo để điều hòa văn hóa Trung quốc và Nhật bản. Thái tử mất năm 49 tuổi.

Thắng Man Kinh Sớ Nghĩa Tư Sao của ông làm Sớ và Minh Không đời Đường Tư sao, hiện có ở Tục Tạng 19.

Bản kinh này, Thánh Đức Thái Tử phân làm ba phần. Tự thuyết phần, Chính thuyết phần, Lưu thông thuyết phần.

Chính thuyết phần phân chia như sau: Năm chương đầu nói về thừa thể. Chân thật nghĩa công đức của Như lai là bản thể Nhất thừa. Các chương Mười đại thọ, Ba đại nguyện, Nhiếp thụ chính pháp là trình bày về Quy, Giới, Nguyện, Hành của bồ tát đạo đều xuất phát từ bản thể nhất thừa.

Tám chương, trình về thừa cảnh. Chương cuối, nói về hành của Bồ tát đạo. Đối với Đại thừa Bồ tát giới mười Đại thụ liên hệ với Tam tụ tịnh giới, Thánh Đức Thái Tử liên hệ phối hợp như sau: Từ Đại thụ thứ nhất đến thứ năm thuộc Nhiếp luật nghi giới. Thứ sáu đến thứ chín thuộc Nhiếp chúng sinh giới. Đại thụ thứ mười là Nhiếp thiện pháp giới. Đối với ba đại nguyện, hai nguyện trước thuộc Nhiếp thụ chánh pháp và Đại nguyện thứ ba là Hộ trì chánh pháp.





Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Contact Us